Đây là một chương chưa từng được công bố, xuất hiện trong bản web novel vào khoảng thời gian của Phần 2 Tập 1. Nó tập trung vào cách Wilma trải qua những ngày tháng trong trại trẻ mồ côi sau khi trở thành cận tùng và cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách cô nhìn nhận Myne và những đứa trẻ mồ côi. Cũng bao gồm cuộc trò chuyện của cô với Rosina về tương lai của Rosina trong đền thờ.
Lời tác giả: Rosina ban đầu là một kẻ gây rắc rối trong mắt Myne, nhưng đó là vì quan điểm của họ về thế giới xung quanh quá mâu thuẫn. Tôi muốn viết một chương khám phá góc nhìn của Rosina chi tiết hơn một chút và cuối cùng đã chọn Wilma làm người kể chuyện, vì độc giả quen thuộc với nhân vật này hơn và có vẻ hiểu cô ấy hơn.
Ngài Myne, một vu nữ áo xanh tập sự, gần đây đã chấp nhận tôi làm cận tùng. Tôi đã bày tỏ với ngài ấy mong muốn được ở lại trong khuôn viên trại trẻ mồ côi, và để đáp lại, ngài ấy đã chấp thuận—cũng như giao cho tôi nhiệm vụ chăm sóc những đứa trẻ chưa rửa tội và giám sát trại trẻ mồ côi.
“Lộc thánh đã được chia cho mọi người chưa?” tôi hỏi. “Rồi sao? Vậy chúng ta hãy dâng lời cầu nguyện và lòng biết ơn. Hỡi Vua và Nữ hoàng tối cao của bầu trời vô tận, những người ban cho chúng con hàng ngàn hàng vạn sinh mệnh để ăn, hỡi Ngũ Vị Thần Vĩnh Cửu cai quản trần gian, con xin dâng lời cảm tạ và cầu nguyện lên các ngài, và xin hãy cùng chia sẻ bữa ăn được ban tặng hào phóng này.”
Những đứa trẻ chưa rửa tội lặp lại lời cầu nguyện của tôi, rồi ngay lập tức bắt đầu ngấu nghiến bữa trưa của chúng. Thức ăn chỉ được đưa đến trại trẻ mồ côi sau khi các tu sĩ và vu nữ trưởng thành rồi đến các tập sự đã dùng xong phần của họ, nên những đứa trẻ mồ côi phải chờ đợi lâu hơn bất kỳ ai khác. Cơn đói của chúng thể hiện rõ qua sự thèm khát dữ dội khi chúng ăn.
Tôi thực sự cảm thấy thương cho bọn trẻ vì chúng phải chờ đợi quá lâu trước mỗi bữa ăn, nhưng đồng thời, tôi cũng vô cùng vui mừng vì giờ đây chúng luôn được đảm bảo có cái gì đó để ăn. Trước đây, chúng hoàn toàn phụ thuộc vào thức ăn thừa, đôi khi chẳng nhận được gì cả.
“Thức ăn hôm nay tuyệt quá, phải không?” tôi hỏi. Tôi ăn cùng với những người lớn khác, nên nhiệm vụ của tôi ở đây là dạy bọn trẻ cách ăn uống đúng mực và tự dọn dẹp. Tổng cộng có sáu đứa, và trông nom tất cả cùng một lúc không phải là chuyện dễ dàng.
“Súp ngon quá.”
“Các bạn có nghĩ hôm nay Lizzie đã giúp không? Nhìn xem rau củ được cắt gọn gàng chưa kìa.”
Dù lượng lộc thánh một ngày là nhiều hay ít, sẽ luôn có súp trên bàn cho bọn trẻ ăn. Bản thân món súp dường như hiện thân cho tất cả những gì Ngài Myne đã làm cho trại trẻ mồ côi, nên tôi luôn nghĩ về ngài ấy mỗi khi nhìn thấy nó.
“Ngài Myne chính là lý do chúng ta có món súp này ngay từ đầu,” tôi giải thích. “Ngài ấy đã dạy chúng ta cách làm nó, ngài ấy cho phép chúng ta thu thập nguyên liệu từ rừng, và ngài ấy trả tiền cho chúng ta vì số giấy chúng ta làm ra để chúng ta có thể mua bất cứ thứ gì mình cần.”
“Chị lúuuuc nào cũng nói với bọn em thế, Wilma,” một đứa trẻ nói. “Và giờ chị sẽ nói, ‘Hãy biết ơn Ngài Myne.’”
Những đứa trẻ khác đều gật đầu đồng ý. Chúng đang trêu chọc tôi, nhưng tôi không nghi ngờ việc chúng thực sự trân trọng tất cả những gì Ngài Myne đã làm cho chúng. Ngài ấy đã tẩy rửa cho chúng, cho chúng thức ăn, và cho phép chúng trải nghiệm thế giới bên ngoài.
Nhiệm vụ của các tu sĩ và vu nữ áo xám là dọn dẹp các sảnh đường được các tu sĩ áo xanh sử dụng—và, vì các tu sĩ áo xanh không bao giờ ghé thăm trại trẻ mồ côi, nơi ở của chúng tôi bị bỏ mặc cho ngày càng bẩn thỉu. Điều này khiến chúng tôi khó giữ vệ sinh cá nhân hơn, nên chúng tôi ít nhất cũng cố gắng duy trì những nơi thường xuyên lui tới nhất.
Tóm lại, phòng ăn không bao giờ quá bẩn, phòng của các tập sự và người lớn cũng vậy. Tuy nhiên, những đứa trẻ chưa rửa tội thì không may mắn như thế; theo thông lệ, chúng được chăm sóc bởi các vu nữ áo xám đã sinh con và sẽ không rời khỏi tầng hầm ngay cả để ăn, nên hầu hết chúng tôi không bao giờ nhìn thấy hay thực sự nghĩ về chúng.
Tôi chắc chắn không phải là người duy nhất cảm thấy sốc khi cận tùng của Ngài Myne, Fran, tiết lộ tình trạng tồi tệ mà những đứa trẻ đó đang phải sống. Phải cần đến sự can thiệp của một người bên ngoài trại trẻ mồ côi, chúng tôi mới nhận ra rằng không còn vu nữ nào ở tầng hầm nữa và những linh hồn tội nghiệp vẫn còn bên trong hầu như không nhận được chút thức ăn nào từ các tập sự.
“Wilma, chúng em có thể đến xưởng khi ăn xong không?” một đứa trẻ hỏi.
“Chỉ sau khi các em đã cất bát đĩa và rửa tay mặt sạch sẽ,” tôi trả lời. “Gil sẽ mắng các em nếu các em làm bẩn giấy đấy.”
“Lutz còn đáng sợ hơn Gil...”
Tôi đã nghe tất cả những câu chuyện về việc Gil la mắng những đứa trẻ mồ côi trong xưởng và đuổi chúng ra ngoài khi cần thiết, nhưng tôi không biết nhiều về cậu bé Lutz này ngoài việc cậu ấy là một thương nhân tập sự mà Ngài Myne hoàn toàn tin tưởng.
“Cậu ấy luôn hét lên những câu như ‘Mấy người có biết tốn bao nhiêu thời gian và công sức để làm ra dù chỉ một tờ giấy này không?!’” một đứa trẻ nói khi chúng tiếp tục bàn tán.
“Hôm nọ cậu ấy còn nổi giận với em trước khi em kịp chạm vào bất cứ thứ gì!” một đứa trẻ khác, Rico, thêm vào. Cậu bé chống tay lên hông và nói bằng giọng điệu cường điệu: “Đám các người có biết thứ này bán được bao nhiêu tiền không?! Đừng có chạm vào sản phẩm bằng đôi tay bẩn thỉu của các người!”
Lũ trẻ cười ồ lên. “Cậu nghe y hệt cậu ấy!”
Thú thật tôi khá ngạc nhiên khi nghe bọn trẻ nói chuyện như vậy. Những giọng điệu gay gắt và ngôn ngữ thô lỗ như thế chưa bao giờ được sử dụng trong đền thờ.
“Nếu chúng ta làm hỏng giấy thì cậu ấy sẽ không cho chúng ta đi vào rừng đâu.”
“Cách đây không lâu cậu ấy còn bạo lực nữa! Em đã cố cảnh báo cậu ấy là bạo lực không tốt, nhưng cậu ấy chỉ bảo là hãy đổ lỗi cho kẻ nào ép cậu ấy phải dùng đến nó.”
Đối với tôi, Xưởng Myne là một thế giới hoàn toàn khác bên trong đền thờ, vận hành dựa trên sự pha trộn các quy tắc phản ánh sự hiểu biết của Ngài Myne về phong tục của thương nhân và đền thờ. Tất nhiên, tôi dựa hoàn toàn giả định này vào những câu chuyện nghe lỏm được—nỗi sợ đàn ông khiến tôi không bao giờ tự mình đến xưởng.
Mặc dù tôi phải thừa nhận rằng trại trẻ mồ côi đang đi theo con đường tương tự nhờ ảnh hưởng của Ngài Myne với tư cách là viện trưởng trại trẻ mồ côi.
Dọn dẹp trại trẻ mồ côi như chúng tôi làm với đền thờ, tự làm thức ăn để có đủ cho mọi người, tự kiếm tiền để có thể nuôi sống bản thân thay vì dựa vào lộc thánh... Ngài Myne đang dạy chúng tôi đủ mọi thứ mà tôi chỉ có thể cho rằng là điều tự nhiên đối với thường dân.
Bất chấp tất cả những gì ngài ấy đã làm cho chúng tôi, Ngài Myne luôn rất khiêm tốn. “Ta chỉ dạy các ngươi cách cải thiện cuộc sống của mình,” ngài ấy sẽ nói. “Sự tiến bộ mà các ngươi đạt được là kết quả của sự chăm chỉ của chính các ngươi.” Có lẽ điều đó đúng, nhưng đền thờ vốn dĩ được tạo nên từ quý tộc và trẻ mồ côi, không ai trong số đó có thể dạy chúng tôi phải làm gì.
Tôi vô cùng, vô cùng biết ơn vì các vị thần đã gửi Ngài Myne đến cho chúng tôi. Ngài ấy ca ngợi tôi là một vị thánh vì cách tôi chăm sóc bọn trẻ, nhưng tôi nghĩ ngài ấy xứng đáng với danh hiệu đó hơn nhiều.
Mặc dù, xét đến tuổi đời còn nhỏ của ngài ấy, có lẽ ngài ấy ít giống một vị thánh mà giống đứa con thần thánh của các vị thần hơn.
Tôi khúc khích cười một mình, rồi nhớ lại những gì Ngài Myne đã nói sáng nay khi ghé thăm trại trẻ mồ côi. Chúng tôi đã nói về Rosina, người mà Ngài Myne cũng vừa mới nhận làm cận tùng gần đây.
Ngài Christine, chủ nhân cũ của Rosina và tôi, đã trở về Khu Quý Tộc một thời gian trước. Bất chấp thực tế này, Rosina vẫn bám víu vào ký ức và các nguyên tắc của ngài ấy như thể chúng tôi vẫn đang phục vụ ngài ấy vậy. Điều đó khiến cô ấy rất không phù hợp để trở thành cận tùng của một thường dân, đặc biệt là khi kỳ vọng của Ngài Christine và Ngài Myne quá khác biệt.
Tôi đã đưa ra một thỉnh cầu với Ngài Myne, và ngài ấy nói sẽ xem xét... nhưng tôi chắc chắn rằng Rosina sẽ sớm bị trả về trại trẻ mồ côi.
Rosina là một mỹ nhân thực sự—cô ấy có những đường nét trưởng thành, mái tóc màu hạt dẻ bồng bềnh và đôi mắt xanh lam sáng lấp lánh như ngọc. Là một người yêu cái đẹp, Ngài Christine đã yêu thích tất cả những điều này ở cô ấy, nhưng hai người họ hòa hợp với nhau không chỉ vì thế; họ gần như cùng tuổi và đều quan tâm cũng như thành thạo nghệ thuật như nhau. Do đó, sau khi bị tách khỏi gia đình và gửi vào đền thờ, Ngài Christine đã đối xử với Rosina như một người bạn thực sự.
Rõ ràng với tôi là Rosina đang mong đợi sự đối xử tương tự từ Ngài Myne, nhưng cô ấy đã quá lạc quan rồi.
“Chắc không còn lâu nữa đâu...”
Ngài Myne đã nói rằng ngài ấy sẽ tham khảo ý kiến tất cả các cận tùng của mình và sau đó thảo luận vấn đề với Rosina sau bữa trưa. Đó có thể sẽ là một trải nghiệm đau đớn cho Rosina nếu cô ấy không chấp nhận thực tế rằng mình không còn phục vụ Ngài Christine nữa.
Tôi tiễn bọn trẻ đến xưởng rồi về phòng mình, sau đó lấy ra những tấm bảng tôi đang dùng để giúp làm bộ bài karuta. Trò chơi này sẽ là món quà của Ngài Myne dành cho bọn trẻ, nên tôi cần phải cẩn thận hơn nữa. Nghệ thuật của tôi sẽ dạy cho chúng về dung mạo của các vị thần, nên có rất nhiều áp lực, nhưng đó là một nỗ lực vô cùng xứng đáng.
Bộ bài karuta của Ngài Myne thực sự rất tuyệt vời. Ban đầu chúng được làm cho Gil để giúp cậu ấy học chữ, và thỉnh thoảng cậu ấy mang chúng đến phòng ăn cho những đứa trẻ khác chơi cùng. Hiệu quả của chúng như một tài liệu học tập là không thể phủ nhận; trong khoảng thời gian dường như chẳng bao lâu, bọn trẻ đã ghi nhớ bảng chữ cái và tên của các vị thần.
Sử dụng bút và mực mà Ngài Myne đưa cho, tôi cẩn thận bắt đầu vẽ các vị thần và thần cụ của họ lên những tấm bảng trước mặt, vốn đã được mài nhẵn và đánh bóng láng coóng. Tôi đã đọc bộ bài karuta nhiều lần đến mức giờ tôi có thể đọc thuộc lòng gần như tất cả. Bọn trẻ cũng biết hết, nên tôi luôn có thể nhờ chúng giúp đỡ khi cần thiết.
Tôi thích chăm sóc bọn trẻ, nhưng niềm hân hoan tôi cảm thấy khi đắm mình vào nghệ thuật là một điều gì đó thực sự đặc biệt. Nó giống như một lời nhắc nhở rằng tôi đã bị bỏ đói niềm đam mê của mình quá lâu.
Tôi đang vẽ dở vài bức minh họa thì có tiếng gõ cửa. Tôi mời người khách vào, và Rosina bước vào, hoàn toàn đúng như tôi dự đoán. Cô ấy đóng cửa lại sau lưng... và rồi nước mắt trào ra trong đôi mắt xanh biếc của cô ấy. Đây là lần đầu tiên tôi thấy cô ấy xúc động đến vậy. Cô ấy đã kìm nén bao nhiêu điều trong lòng chứ?
“Wilma, Ngài Myne thật tàn nhẫn,” Rosina than thở. “Ngài ấy bảo tớ làm công việc của một tu sĩ áo xám!”
“Tớ không chắc là mình hiểu lắm... Hãy kể cho tớ nghe chính xác chuyện gì đã xảy ra.”
“Được, tất nhiên rồi. Làm ơn hãy nghe tớ. Cậu là người duy nhất có thể hiểu tớ, Wilma. Dù sao thì cậu cũng từng phục vụ Ngài Christine mà.”
Tôi ngừng vẽ và xoay ghế lại, mời Rosina ngồi xuống giường tôi. Cô ấy ngay lập tức bắt đầu giải thích tình hình, nước mắt lăn dài trên má.