SƠ TUẤT[7 GIỜ TỐI]
Trước khi ngọn lửa thành hình, khói đen đã bốc lên dày đặc. Hoa lửa tí tách bốn phía, giống như hắc long điên cuồng lao lên bầu trời.
Sơ Tuất, ngày 14 tháng Giêng năm Thiên Bảo 3
Phường Ninh Nghĩa, huyện Trường An, thành Trường An.
“Không liên lạc được? Sao có thể như thế?”
Đàn Kỳ nhìn người lính thông tin với vẻ khó tin. Hệ thống vọng lâu là do công tử tự tay quy hoạch và thiết kế, không truyền tải tin tức một chiều. Chỉ cần vọng lâu nằm trong tầm mắt của võ hầu là có thể trao đổi thông tin qua lại. Bằng cách này, ngay cả khi một vọng lâu không kịp phản hồi thì tin tức vẫn có thể truyền đi qua những tuyến khác. Trừ khi hàng trăm vọng lâu ở khắp Trường An đồng loạt sụp đổ, nếu không sẽ không có chuyện không liên lạc được.
Người lính thông tin nói: “Phía mất liên lạc chính là đại vọng lâu.”
Đàn Kỳ nghe vậy thì còn thấy khó tin hơn. Đại vọng lâu sao? Đó là vọng lâu chính của ti Tĩnh An, nằm ở hoa viên phía sau đại điện. Nó có hai nhiệm vụ: một là nhận tin tức từ toàn thành bất cứ lúc nào, hai là gửi chỉ thị đến bất cứ khu vực nào trong thành không kể thời điểm. Nếu đại vọng lâu mất liên lạc thì ti Tĩnh An sẽ trở thành một kẻ đui mù, bán thân bất toại.
Tại sao công tử lại để cho một nơi quan trọng như vậy gặp trục trặc? Đàn Kỳ nghển cổ nhìn về phía phường Quảng Đức. Song màn đêm thăm thẳm, bóng nến lung linh, khiến cô không tài nào nhìn tới được một nơi xa như thế.
“Chắc là sẽ sớm khôi phục lại bình thường thôi. Công tử ghét nhất tin tức không kịp thời.” Đàn Kỳ tự nhủ.
Cùng lúc đó, Trương Tiểu Kính đang ở trong hẻm kiểm kê kết quả trận đấu vừa rồi. Sau khi đánh gục tên học việc của y quán, y đã bóp miệng hắn ra một viên thuốc độc. Trương Tiểu Kính cầm viên thuốc, đặt dưới mũi ngửi thử thì đoán rằng đó là hỗn hợp hồ mạn đằng và phụ tử, nhưng không có mùi gì đặc biệt. Viên thuốc độc này không phải thứ người bình thường có thể điều chế được, điều này cho thấy thế lực đứng sau chúng thực đáng sợ.
Lúc này, Đàn Kỳ vội vàng chạy tới báo cho Trương Tiểu Kính về việc mất liên lạc với đại vọng lâu. Trương Tiểu Kính cũng chau mày, điều này thực sự kì lạ. Đàn Kỳ nói: “Nếu không liên lạc được thì chi bằng đưa thích khách về phường Quảng Đức đi!”
“Không được.” Trương Tiểu Kính kiên quyết phản đối. “Giờ đã là giờ Tuất, đường phố đông người qua lại. Không biết mất bao lâu mới đưa được hắn về tới đó. Chúng ta không có nhiều thời gian như vậy!”
“Vậy làm sao bây giờ?”
“Đưa hắn đến điện thờ Ba Tư, thẩm vấn ngay tại chỗ.” Trương Tiểu Kính lập tức ra quyết định. Đàn Kỳ vẫn còn muốn tranh luận nhưng y chỉ liếc nhìn cô một cái rồi thản nhiên nói: “Hành động của cô nương không cần bàn bạc với ta, nhưng ở đây ta là người quyết định.”
Đàn Kỳ bĩu môi, chỉ đành ngậm miệng. Nhưng cô vẫn không yên tâm nên cử một người về phường Quảng Đức báo cáo.
Binh lính quân Lữ Bôn đặt lại gã học việc và tên phu xe lên cỗ xe bò, rồi đánh xe trở lại điện thờ Ba Tư dưới ánh nhìn ngạc nhiên của du khách dọc đường. Sự việc lớn đến nỗi kinh động cả giáo chủ ngôi đền này, thậm chí một chấp sự còn được cử tới để hỏi thăm tình hình.
“Hiện nay đang có tà giáo âm mưu chống phá, triều đình cần nhờ cậy uy nghi Thượng đế khiến tà ma kinh hãi, nên mới nhờ tại hạ giúp sức tiến hành tra hỏi trong đền.” Nghi trượng Y Tư nói thế với đồng sự của mình. Đối phương dù không rõ ‘tra hỏi’ ở đây là tra hỏi cái gì, nhưng khi biết rằng triều đình chấp nhận Thượng đế thì ai nấy đều tỏ ra vô cùng vinh dự.
Nơi giam giữ tên học việc y quán chính là phòng thẩm vấn mà Trương Tiểu Kính và Đàn Kỳ từng bị nhốt. Y Tư giải thích rằng đây là nơi yên tĩnh và thích hợp thẩm vấn nhất trong đền. Gã ta hiện tại tỏ ra vô cùng săn sóc, chỉ sợ Trương Tiểu Kính giận cá chém thớt sẽ làm liên lụy đến điện thờ Cảnh giáo.
Tên học việc kia bị trói gô rồi nhét vào gian phòng chật hẹp, sau đó thình lình tỉnh dậy bởi một xô nước đá.
“Giờ ngươi tốt nhất nên tránh đi một lát.” Trương Tiểu Kính nói với Y Tư, con mắt lóe lên ánh nhìn tàn nhẫn. Y Tư do dự một lát nhưng vẫn không nhúc nhích: “Hắn ta phạm tội giết người ở đền nhà ta, nên ta cũng cần biết tình hình thẩm vấn để thể hiện sự công minh.”
“Tùy ngươi.”
Trương Tiểu Kính kéo ô cửa nhỏ, nhìn vào bên trong. Tên kia đang cúi đầu không động đậy, từng giọt nước từ mái tóc ướt sũng nhỏ tong tong xuống đất nhưng bờ vai run run, cho thấy hắn ta đã tỉnh.
Tên đó là người Trung Nguyên, mặt mũi gầy gò, râu ria ngắn tủn, thân hình không cơ bắp lắm nhưng cân đối, có thể loáng thoáng nhìn thấy hai đường gân xanh kéo dài từ sau tai tới cổ, chỉ cần nhìn thoáng qua liền biết hắn là một sát thủ thường xuyên luyện tập quanh năm. Trương Tiểu Kính không nói gì, chỉ lạnh lùng nhìn hắn.
“Giết ta đi!” Tên sát thủ yếu ớt nói.
“Để ta cho ngươi biết tiếp theo sẽ xảy ra chuyện gì.” Giọng nói Trương Tiểu Kính văng vẳng bên ngoài phòng xưng tội. “Vào thời Thần Long, có một ngự sử tên là Châu Lợi Trinh phụng mệnh Võ Tam Tư đi ám sát Hoàn Ngạn Phạm. Châu Lợi Trinh cố tình chặt một đoạn trúc để đầu trúc nhọn hoắt, sau đó kéo lê Hoàn Ngạn Phạm hết vòng này đến vòng khác trên mặt đất. Từng mảng da thịt của hắn bị đầu trúc róc ra, xé rách, mài nát, làm lộ ra cả gân cốt. Sau suốt một ngày dài tha lôi như thế, hắn mới tắt thở. Khi chết, xương thịt gần như đã tách rời hoàn toàn, cọc trúc cũng đỏ rực màu máu. Đây chính là cái gọi là ‘trúc tỏa ráng chiều’.”
Trương Tiểu Kính thao thao bất tuyệt, như thể y đã tận mắt chứng kiến khung cảnh ấy. Y Tư bên cạnh không khỏi phát run. Hắn tưởng tượng đến cảnh máu me ‘trúc tỏa ráng chiều’ kia, lập tức cảm thấy bụng dạ quặn lên từng cơn. Không biết kẻ đang bị giam trong phòng xưng tội cảm thấy thế nào khi nghe những lời này.
Trương Tiểu Kính tiếp tục nói: “Nhưng giờ ta không có cả một ngày dài, vì vậy ta sẽ thử một phương pháp khác. Đây là cách mà Chu Hưng năm đó dùng để đối phó với Hách Tượng Hiền, gọi là ‘phi thạch dẫn tiên’.” Câu chuyện tàn nhẫn mà Trương Tiểu Kính đang nhắc tới quả thực còn được trích dẫn trong kinh điển, không khỏi khiến Y Tư chết lặng.
“Ta sẽ nhét một móc sắt vào hậu môn ngươi rồi treo ruột lên. Một đầu móc được buộc vào một thanh gỗ nằm ngang, đầu kia của thanh gỗ sẽ treo đá, để cho hòn đá thả tự do xuống. Sau đó, ta sẽ treo cột gỗ này lên một giá gỗ khác, ngươi và đá ở hai bên giống như cái cân. Chắc ngươi từng dùng cân rồi nhỉ? Tiếp theo ta sẽ đứng một bên, kéo đá xuống khiến thanh gỗ nhếch lên, cái móc sẽ từ từ rút ruột ngươi ra khỏi hậu môn. Ngươi có thể cảm nhận được rõ ràng từng đoạn ruột chuyển động. Nếu ta kéo nhanh hơn một chút thì ruột của ngươi cũng sẽ bị rút ra bất thình lình rồi bay thẳng lên không trung. Đương nhiên, nếu thay móc sắt bằng đầu trúc, dựa vào lực đàn hồi của thân trúc để hất cả người ngươi lên rồi lại thả xuống thì cũng được đấy nhỉ.”
Nói xong, Trương Tiểu Kính bật cười ha hả, ra chiều đắc ý lắm. Nếu tên kia ngẩng đầu lên sẽ thấy một con mắt lóe qua ô cửa nhỏ. Đến lúc đó, hắn sẽ biết rằng y đang nói rất nghiêm túc.
Đàn Kỳ đứng cạnh lắng nghe, cô biết rõ Trương Tiểu Kính đang dồn ép tên tù nhân kia nhưng vẫn không khỏi cảm thấy rùng mình. Bầu không khí quanh người y khiến cô gần như khó thở, đành phải di chuyển xa ra vài bước. Trước nay, cô luôn coi Trương Tiểu Kính như một tên dâm tặc háo sắc, một đô úy tận tụy của ti Tĩnh An và một người bạn đồng hành đáng tin cậy. Lúc này, cô mới nhớ ra bộ mặt thật của y: Ngũ Tôn Diêm La của huyện Vạn Niên.
Ngũ Tôn là gì? Là tàn nhẫn, độc ác, cay nghiệt, ngoan cố và nham hiểm. Chín năm làm bất lương soái ở Trường An, không biết y đã dùng thủ đoạn này bao nhiêu lần, tra tấn biết bao nhiêu người.
Cô cố gắng hết sức để rũ bỏ suy nghĩ này ra khỏi đầu, mắt đối mắt với Y Tư. Cả hai đều nhìn thấy sự hối hận trong mắt đối phương. Nếu biết rõ sẽ thế này thì đã không đứng quan sát ở đây, mà thà chờ đợi kết quả ở hành lang còn hơn. Y Tư bối rối gãi đầu, nếu Trương Tiểu Kính thực sự muốn hành hình ở đây thì không biết gã có nên ngăn cản hay không, dù sao đây cũng là đất thánh linh thiêng.
“Giết ta đi!” Tên sát thủ lẩm bẩm lại câu này.
Trương Tiểu Kính nhếch môi, giọng nói có vẻ nham hiểm: “Ngươi không cần phải thắc mắc về tác dụng của hai cách này. Ta có thể nói cho ngươi biết rằng cả cách của Chu Lợi Trinh hay Chu Hưng, hay kể cả vô vàn phương thức tra tấn khác của bọn ta đều được truyền lại bởi một người, Lai Tuấn Thần. Bát pháp của Lai thị rất nổi tiếng đó!”
Ba chữ ‘Lai Tuấn Thần’ vừa được thốt ra, gian phòng lập tức trở nên lạnh lẽo. Đó chính là cơn ác mộng muôn đời của dân Trường An. Dù người này đã chết nhiều năm, nhưng cái tên của ông ta vẫn được dùng để dỗ trẻ con khóc dạ đề. Cái tên này đôi khi còn hiệu quả hơn cả những cách tra tấn mà ông ta phát minh.
“Hừm!” Tên sát thủ định nhổ nước bọt nhưng không nhổ nổi, bởi môi hắn không ngừng run rẩy.
Tất cả những chi tiết nhỏ nhặt này đều không qua được mắt Trương Tiểu Kính. Nếu đó là lang vệ Đột Quyết, y đương nhiên không có đủ tự tin để cạy miệng hắn. Nhưng những kẻ này lại khác. Chúng mang theo thuốc độc bên mình, chứng tỏ tuy không sợ chết nhưng vẫn sợ tra tấn. Giờ hắn đang run rẩy, đó là một tín hiệu tốt.
Trương Tiểu Kính đóng ô cửa sổ lại cái xoẹt, để nỗi kinh hoàng từ từ lên men một lúc. Trong không gian tối tăm kín như bưng, tên kia sẽ không thể ngừng tưởng tượng đi tưởng tượng lại những cảnh vừa rồi. Bất kì âm thanh nào từ thế giới bên ngoài, như tiếng bước chân hay chuyển động của chiếc bàn gỗ, đều được coi là tín hiệu thông báo một cuộc hành quyết sắp xảy ra. Có những người chỉ thế thôi cũng đủ để bị dọa chết ngay tại chỗ.
Trương Tiểu Kính cố tình không hỏi một câu nào để tên kia ảo tưởng rằng phía thẩm vấn chẳng đòi hỏi gì từ mình. Điều này sẽ càng khiến hắn ta sợ hãi và càng muốn chứng tỏ bản thân.
Nghệ thuật tra tấn cũng giống như chuyện phòng the, tinh túy nhất là màn dạo đầu.
Sau khi thu xếp xong, Trương Tiểu Kính xoay người rời khỏi phòng xưng tội. Đàn Kỳ và Y Tư đứng tít ngoài cửa, sợ hãi nhìn y. Trương Tiểu Kính phủi phủi hốc mắt, cũng chẳng buồn giải thích với họ. Thế giới hai người này sống quá tươi đẹp nên họ căn bản không biết cuộc sống thực sự của những tầng lớp dưới là như thế nào.
Y Tư do dự hồi lâu mới đi tới gần y. “Trương đô úy đúng là đã tra cứu rất nhiều điển tịch. Ta thấy tên thích khách kia cũng bị dọa cho khiếp vía rồi đấy.”
“Ta không học từ sách.” Trương Tiểu Kính mỉm cười. Y Tư chỉ cảm thấy một cơn ớn lạnh chạy dọc từ lòng bàn chân đến tận đỉnh đầu, làn da vốn đã trắng bóc giờ đây lại càng cắt không còn một hột máu.
“Các ngươi canh chừng ở đây, lúc nào hắn ta mở miệng thì lập tức cho ta biết. Ta ra ngoài xem xét địa hình.”
“Địa hình?” Y Tư khó hiểu hỏi.
“Phi thạch như sơn, phải chọn một nơi bằng phẳng mới tốt. Như thế thì giá gỗ mới chắc được.”
“Này! Việc này, việc này không nhân nghĩa đâu…” Lần này Y Tư bị dọa cho sợ hãi. Gã này thực sự có ý định tra tấn người ngay tại ngôi đền Cảnh giáo này ư? Nếu thế thì sau này bảo các tu sĩ làm sao sống ở đây được nữa?
Trương Tiểu Kính mặc kệ hắn, đi thẳng ra khỏi gian phòng, bắt đầu khảo sát địa hình trong sân, thỉnh thoảng giơ ngón tay lên hoặc giẫm giẫm chân xem đất mềm đến mức nào, nhìn như một người thợ xây chuyên nghiệp.
Không bao lâu sau, Y Tư vừa vén áo choàng, vừa loạng choạng chạy ra ngoài: “Trương đô úy! Đừng dựng cái gì nữa! Khai rồi! Khai rồi!” Trong tình thế cấp bách, hắn chẳng buồn nói những lời văn nhã nữa mà thẳng thắn, ngắn gọn cho xong.
“Ồ? Khai hết rồi sao?”
“Đúng vậy! Khai hết rồi!”
Bước ngoặt khiến tên thích khách kia khai ra phải nhắc tới công lao của Y Tư. Sau khi Trương Tiểu Kính rời đi, Y Tư càng nghĩ càng thấy không ổn nên vội vàng lẻn sang phía bên kia của phòng xưng tội, bắt đầu chân thành thuyết phục tên thích khách, giống như giảng giải cho những tín đồ thường ngày.
Không rõ liệu lời nói của Y Tư có thực sự có sức mạnh cảm hóa không, hay không khí mà Trương Tiểu Kính tạo ra trước đó quá kinh khủng, nên mới khiến hắn ta cuối cùng cũng buông xuôi, không chống cự nữa. Vậy là Y Tư vội vàng chạy tới ngăn cản Trương Tiểu Kính.
Từ góc độ tra khảo mà nói, một mềm một cứng, một kéo một đẩy, quả thực có thể khiến người ta nhanh mở miệng hơn.
Lúc sắp tới trước phòng xưng tội, Y Tư túm lấy Trương Tiểu Kính nói: “Hắn ta đồng ý sẽ kể hết những gì hắn biết, nhưng các người phải tha thứ cho tội ác của hắn ta. Người này đã hứa sẽ cải đạo theo Chúa của ta, từ nay sẽ tĩnh tâm tu hành, không ra khỏi cổng đền nửa bước.”
“Chuyện này ngươi đi mà thương lượng với ti thừa của ti Tĩnh An, ta chỉ phụ trách hỏi cung.” Trương Tiểu Kính hất tay gã ra. Gã nghi trượng này càng ngày càng vượt quá bổn phận, còn dám can thiệp vào cả công việc của triều đình.
Tên thích khách vẫn bị trói trong phòng xưng tội, nhưng cánh cửa gỗ đã được mở toang để hắn ta nhìn thấy ánh sáng. Đàn Kỳ ngồi đối diện hỏi chính còn Trương Tiểu Kính ngồi bên cạnh nhìn chằm chằm, vừa để gây áp lực, vừa để quan sát những thay đổi nhỏ nhất của hắn, từ đó phát giác ra lời nói dối.
Tên thích khách chậm rãi mở miệng, tự xưng là người của Thủ Tróc Lang. Trương Tiểu Kính không khỏi chau mày khi nghe tới mấy chữ này. Từ ‘thủ tróc’ ban đầu dùng để chỉ những tòa thành nhỏ, nơi đồn trú của quân đội nhà Đường ở khu vực biên giới. Những tòa thành này không nằm ở các vị trí địa lý chiến lược, quy mô rất nhỏ nên triều đình gần như không ngó ngàng đến. Họ tự trị trong thời bình và tự bảo vệ trong thời chiến. Dần dà, mọi tòa thành thủ tróc đều trở thành một nơi vô pháp vô thiên, người tốt kẻ xấu lẫn lộn.
Từ thời Khai Nguyên, Đại Đường ngày càng buông lỏng việc quản lý binh lính khiến những tòa thành tróc thủ gần như không còn bất kì cơ quan nào đứng trên. Lúc này, một tổ chức mang tên Thủ Tróc Lang âm thầm xuất hiện, chuyên cung cấp dịch vụ lính đánh thuê cho chính quyền địa phương, tiết độ sứ và cả những thương nhân giàu có. Thành viên của tổ chức này rất phức tạp, bao gồm tội phạm lưu vong, lão binh giải ngũ, con cái của những người nông dân bị lưu đày đến vùng biên ải và một số lượng lớn người Hồ đến từ Tây Vực không rõ lai lịch. Những thành viên này có một điểm chung là đều đến từ những tòa thành thủ tróc ở nhiều nơi khác nhau.
Lính Thủ Tróc Lang điêu luyện, làm việc nhanh nhẹn. Chỉ trong vỏn vẹn mười năm, tổ chức này đã trở thành một thế lực có tầm ảnh hưởng trên lãnh thổ Đại Đường. Nếu hai thích khách này đều đến từ Thủ Tróc Lang thì mọi chuyện càng trở nên kì lạ.
Trương Tiểu Kính từng tiếp xúc với tổ chức này vài lần. Họ dù sao cũng là người làm ăn nên hành xử rất khiêm tốn và thận trọng. Đối tác làm ăn chủ yếu của họ chính là Đại Đường, vậy thì tại sao lại cấu kết với người Đột Quyết để phá hoại Trường An? Họ chán sống rồi ư?
Theo một chiều hướng khác, y nghĩ cũng có thể họ đã nhận một nhiệm vụ ám sát mà không biết sự tình phía sau đối tượng bị ám sát đó. Vì thế, hắn khẽ bảo Đàn Kỳ hỏi theo hướng này xem sao. Quả nhiên khi Đàn Kỳ hỏi tiếp, thích khách thừa nhận rằng mình không biết trưởng lão Túc Đặc kia. Hắn ta chỉ nhận lệnh rồi mai phục trong điện thờ Ba Tư, bám sát mọi động tĩnh của trưởng lão. Sau khi nhận được tín hiệu mới lập tức ra tay giết người rồi sơ tán.
Trương Tiểu Kính hỏi ai là người ra tín hiệu, thích khách nói rằng không có ai. Đó chỉ là một tổ quạ trên cây hòe trong đền, tổ quạ biến mất đồng nghĩa với việc đã đến lúc phải hành động. Bằng cách này, hai bên không cần gặp mặt và cũng giảm bớt nguy cơ bại lộ. Đây là một cách làm rất phổ biến, chỉ có điều đáng thương cho tổ quạ kia mà thôi.
“Vậy ngươi nhận lệnh từ ai?” Trương Tiểu Kính lại hỏi. Tên thích khách này không biết thân phận khách hàng, nhưng chắc chắn phải biết cấp trên của mình là ai.
Tên thích khách im lặng. Câu hỏi này đã chạm tới điều cấm kỵ nhất của hắn. Những Thủ Tróc Lang này đều có gia đình sinh sống ở thành thủ tróc, nếu họ chết thì tổ chức sẽ thay họ chăm sóc người thân, nhưng nếu họ phản bội thì không biết chuyện gì sẽ xảy ra với người thân của họ.
Trương Tiểu Kính lạnh lùng nói: “Nếu ngươi đã mở miệng khai báo thì đồng nghĩa với việc đã phản bội Thủ Tróc Lang. Thế thì chi bằng khai hết đi, biết đâu triều đình sẽ nương tay với ngươi.” Tên thích khách nghe ra Trương Tiểu Kính có ý uy hiếp, vội vàng đánh ánh mắt tuyệt vọng về phía Đàn Kỳ và Y Tư.
Y Tư không đành lòng. “Nếu hắn đã một lòng hướng về Đức Chúa thì đừng ép hắn quá…”
Trương Tiểu Kính đột nhiên chỉ tay ra cửa, tức giận hét lớn: “Cút!”
Lửa giận bất ngờ bùng phát khiến mọi người trong phòng đều run cầm cập. Y Tư cứng họng, không thể tin nổi vào tai mình. Kể từ khi tới thành Trường An, chưa có một ai từng nặng lời với gã như thế.
Trương Tiểu Kính điên tiết mắng: “Ngươi cho rằng ngươi là thượng thư bộ Hình hay quan Đại lý tự mà dám ở đây nói nhăng nói cuội, khoa chân múa tay?”
“Tại hạ chỉ là…”
“Điện thờ Ba Tư này của các ngươi đã chứa chấp tội phạm quan trọng, phá hoại Trường An. Ngươi cản trở ti Tĩnh An làm việc, suýt chút nữa để thích khách chạy trốn. Chỉ riêng hai tội danh này đã đủ để thổi bay điện thờ của ngươi ra khỏi Trường An, đến cái nóc cũng chẳng còn! Ngươi thấy mình có công to lắm à?”
“Nhưng mà…”
“Cút ra ngoài!”
Y Tư bị mắng đến nỗi mặt mũi xám xịt, phải mất một lúc mới lấy lại được tinh thần, làm dấu thánh rồi nói: “Ta chỉ là nô bộc của Thượng đế, cũng chỉ đang lo lắng cho con chiên của Người mà thôi!” Sau đó, gã cúi lưng thật sâu, đoạn quay người rời đi, bước đi thất tha thất thểu, có vẻ bị sốc nặng.
Đàn Kỳ nhìn bóng lưng gã rời đi, khẽ thở dài. Cô phần nào hiểu được suy nghĩ của gã tu sĩ tự kiêu, ngây thơ kia, nhưng tình hình nghiêm trọng này không thể giải quyết bằng một trái tim Bồ Tát nên cũng chỉ đành trừng mắt lên ra vẻ giận dữ.
Thấy Trương Tiểu Kính nổi trận lôi đình với Y Tư, tên thích khách cũng bị dọa cho run lên. Trương Tiểu Kính quay sang hắn ta, vỗ bàn quát lớn: “Ta nói cho ngươi biết, người các ngươi giết chính là Hữu Sát của người Đột Quyết. Ông ta đã lên kế hoạch cho một nhóm hung đồ phá hủy cả thành Trường An trong đêm nay. Nhiệm vụ mà các ngươi nhận được chính là diệt khẩu thay nhóm hung đồ đó.”
Đồng tử tên thích khách đột nhiên co lại. Hắn ta không biết Hữu Sát là ai, cũng không thể hiểu được mối quan hệ đầy phức tạp giữa họ. Thế nhưng, hắn biết hậu quả của việc cả thành Trường An bị phá hủy.
“Thủ Tróc Lang nối giáo cho giặc, phá hoại triều đình. Đến lúc đó không chỉ tổ chức của ngươi, mà thậm chí tất cả thành thủ tróc ở khắp vùng biên ải đều sẽ bị san bằng.”
Tên thích khách im lặng, nhưng khóe mày hắn ta lại run lên. Hai từ ‘san bằng’ này có nghĩa là hàng trăm ngàn đàn bà, trẻ em của thành thủ tróc sẽ trôi dạt khắp nơi, rơi vào kiếp nô lệ. Triều đình Đại Đường hoàn toàn có thể làm được việc này.
“Khai ra cấp trên của ngươi chính là tự cứu lấy Thủ Tróc Lang.” Trương Tiểu Kính tung ra đòn chốt hạ.
Tên thích khách cuối cùng cũng hoàn toàn sụp đổ. Hắn che mặt, ấp úng nói ra mấy chữ: “Phường… Phường Bình Khang. Vị trí và mệnh lệnh của ta đều được giao nhận ở tiệm sách Lưu Ký của phường đó.”
Phường Bình Khang ư? Trương Tiểu Kính nghe thấy cái tên đó thì không khỏi sửng sốt, sau đó nghĩ lại mới thấy không thể nào hợp lý hơn.
Phường Bình Khang không chỉ có thanh lâu mà còn có Lưu Hậu Viện của mười vị tiết độ sứ trên cả năm phủ, nào là Phạm Dương, Hà Đông, Bình Lư, Sóc Phương, Hà Tây, An Tây, Bắc Đình, Lũng Hữu, Kiềm Nam, Lĩnh Nam. Mười Lưu Hậu Viện này phụ trách mọi công việc của mười vị tiết độ sứ ở kinh đô, từ việc lớn như điều động quân lương, quan hệ quan chức, đệ trình tấu chương, đến những việc nhỏ như những chuyến đi chơi của gia quyến hay mua sắm lễ vật. Ngoài ra, Lưu Hậu Viện còn có một nhiệm vụ khác không thể công khai. Đó là trạm tình báo ở kinh đô của các nơi, không chỉ thu thập tin tức tình báo ở các địa phương gửi cho triều đình, mà đồng thời cũng là tai mắt của các tiết độ sứ tại kinh thành. Thông tin về việc lang vệ Đột Quyết tấn công triều đình cũng là do Lưu Hậu Viện Sóc Phương phát hiện đầu tiên, sau đó mới báo cáo lên triều. Mãi sau này, ti Tĩnh An mới tiếp nhận vụ việc.
Tiết độ sứ là khách hàng lớn của Thủ Tróc Lang. Thông thường, chính các Lưu Hậu Viện sẽ đứng ra thuê mướn thay họ. Điểm dừng chân của Thủ Tróc Lang được đặt ở phường Bình Khang, đương nhiên tạo điều kiện liên lạc thuận tiện hơn nhiều.
Có vẻ như hôm nay định sẵn y phải vào phường Bình Khang lần thứ hai rồi. Trương Tiểu Kính vừa suy nghĩ, vừa vặn vẹo đầu ngón tay. Vết thương ở ngón út tay trái lại bắt đầu đau âm ỉ. Y đang định quay người rời đi thì chợt thấy một lính Lữ Bôn hoảng sợ chạy tới. Đàn Kỳ nhận ra đây chính là tên lính được cử tới ti Tĩnh An ở phường Quảng Đức, liền vội vã chặn hắn lại, hỏi sao lại quay lại đây rồi.
“Ti Tĩnh An bị tập kích rồi!” Tên lính nghẹn ngào, thở không ra hơi. “Cả đại điện đều đã bốc cháy!”
----------------------------------------
Đại điện ti Tĩnh An ở phường Quảng Đức bỗng rực hơn bao giờ hết. Những đốm lửa, hoa lửa nhảy múa trên mái ngói, điên cuồng nuốt chửng cả tòa nhà, tạo ra những âm thanh ầm ầm. Chẳng bao lâu nữa, những đốm lửa này sẽ tụ lại với nhau, biến đại điện ti Tĩnh An trở thành một bó đuốc khổng lồ không thua kém bất kì chiếc đèn lồng nào ở chợ Tây. Cùng lúc đó, trắc điện hai bên cũng bập bùng ánh lửa.
Trước khi ngọn lửa thành hình, khói đen đã bốc lên dày đặc. Hoa lửa tí tách bốn phía, giống như hắc long điên cuồng lao lên bầu trời. Màn khói đen kịt mang theo một thứ mùi gay mũi cực kì khó ngửi. Bầu trời đêm vốn được chiếu sáng bởi vô vàn ánh hoa đăng từ khắp các phường lại bị làn khói này nhuộm đen trở lại.
Các vọng lâu gần xa vẫy đèn lồng tím một cách vô vọng về phía tổng bộ, chờ đợi sự hồi đáp được định sẵn sẽ không bao giờ tới.
Rất nhiều thư lại của ti Tĩnh An lao ra từ cổng chính và cổng ngách, ai nấy đều nhếch nhác, chật vật vô cùng. Có người ngã xuống đất, có người kêu cứu, thậm chí có người bị bắn vào lưng, vừa chạy vừa la hét.
May là thành Trường An vẫn luôn đề cao nguy cơ hỏa hoạn trong dịp tết Thượng Nguyên. Mỗi năm, đến dịp hội hoa đăng, một lượng lớn võ hầu lại được sắp xếp túc trực, sẵn sàng chờ lệnh bất cứ lúc nào. Vừa nhìn thấy đám cháy ở phường Quảng Đức, các võ hầu cứu hỏa ở các phường lân cận lập tức hành động và lao tới đây. Chỉ có điều người dân ngắm hoa đăng quá đông nên họ phải tốn gấp đôi thời gian di chuyển so với bình thường. Lực lượng cứu viện đến trước lại quá thưa thớt nên chỉ có thể giải cứu những người may mắn sống sót trước, sau đó mới đảm bảo đám cháy không lan sang những nhà bên cạnh, còn lại thì hoàn toàn bất lực trước những gì diễn ra bên trong đại điện.
Sau khi được đưa đến nơi an toàn, nhiều thư lại chỉ biết ngồi sụp xuống, khóc lóc thảm thiết trước đống lửa. Một số lượng lớn tài liệu quan trọng được cất giữ ở hai trắc điện đều bị thiêu rụi trong chốc lát.
Không có những thứ này, ti Tĩnh An sẽ không thể sử dụng nghệ thuật phân tích dữ liệu, đánh mất đi khả năng thấu suốt quan trọng nhất.
Một cảnh tượng kinh hoàng không từ ngữ nào miêu tả được sẽ luôn ám ảnh trong tâm trí những người sống sót này. Trước khi chạy trốn khỏi đại điện, họ thấy chiếc sa bàn khổng lồ chính giữa điện chìm trong biển lửa, mặt đất trên đại lộ chu Tước nứt toác, Lạc Du Nguyên tan ra trong ánh lửa bập bùng, hồ Khúc Giang khói bốc lên nghi ngút, từng mảnh, từng mảnh của một trăm linh tám phường nghiêng ngả rồi đổ sụp. Cảnh tượng ấy khủng khiếp chẳng khác nào địa ngục. Bất kỳ ai chứng kiến đều không khỏi khó thở trước áp lực nặng nề của điềm báo chẳng lành và quá sức tưởng tượng như vậy.
Trận hỏa hoạn đã kinh động tất cả các cơ quan xung quanh. Từ trạm võ hầu nơi góc phố đến bất lương nhân ở Kinh Triệu phủ, từ quân Lữ Bôn đến Hữu Kiêu vệ đều cử người đến tìm hiểu xem rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Ngoài ra, còn có rất nhiều người dân trẩy hội hoa đăng và đám vô công rồi nghề, vì tưởng đây là chiêu trò gì mới nên tò mò kéo đến xem.
Vị trí của ti Tĩnh An quá nhạy cảm. Việc nó xảy ra hỏa hoạn lúc này đương nhiên sẽ thu hút sự chú ý từ tất cả mọi phía.
Theo lý thì lúc này nên nghĩ cách lấy tài liệu trong điện ra trước, sau đó cố gắng khôi phục chức năng liên lạc của đại vọng lâu, cuối cùng mới điều động binh lính canh phòng. Tuy nhiên, hai trưởng quan Hạ Tri Chương và Lý Tất một người thì bệnh nặng còn một người bị bắt làm con tin, đô úy ti Tĩnh An và chủ soái quân Lữ Bôn đều đang ở tít phường Nghĩa Ninh, ngay cả chủ sự Từ Tân cũng không rõ tung tích, dẫn đến việc ti Tĩnh An rơi vào tình thế rắn mất đầu, vô cùng hỗn loạn.
Ti Tĩnh An lúc này giống như một người khổng lồ bị tên độc bắn trúng, ngã sụp xuống đất, bất tỉnh nhân sự.
Một đội kỵ binh từ đâu tức tốc lao tới, mép dưới cầu vai áo họ được khâu da báo, vừa nhìn đã biết là lực lượng báo kỵ tinh nhuệ của Hữu Kiêu vệ. Báo kỵ vung roi ngựa, thô bạo xua đuổi dân thường có mặt xung quanh, nhanh chóng dọn sạch một vùng an toàn gần hiện trường vụ cháy.
Cam Thủ Thành mặc quân phục vội vã lao tới dưới sự yểm trợ của hơn chục cận vệ. Bên ngoài hoàng thành vốn không thuộc sự quản lý của Hữu Kiêu vệ, nhưng đúng lúc Cam Thủ Thành đang đi tuần gần đó nên mới kịp thời lao tới. Hắn ngẩng đầu im lặng quan sát ngọn lửa ở đại điện, khuôn mặt căng ra không biểu cảm. Một người lính bên cạnh cười nói: “Ti Tĩnh An phóng hỏa chúng ta, chỉ vài canh giờ sau đã gặp ngay báo ứng. Quả báo này đúng là quá nhanh…” Lời còn chưa dứt đã thấy một tiếng bốp vang lên. Chiếc roi ngựa quất mạnh vào đùi khiến gã nhảy lên vì đau đớn.
Cam Thủ Thành thấp giọng quát: “Ngậm cái miệng chó của ngươi lại!” Lúc này hắn ta không hề cảm nhận được niềm vui báo thù mà chỉ thấy sợ hãi.
Ban nãy, thủ hạ của hắn đã tìm thấy vài thư lại may mắn sống sót. Theo mô tả của những người này, một nhóm người bịt mặt tự xưng là ‘Kiến Càng’ đã đột kích ti Tĩnh An rồi tiến hành một vụ thảm sát và hủy diệt, sau đó nhân lúc chưa bị bên ngoài phát giác liền nhanh chóng bắt Lý ti thừa đi. Trước khi rời đi, chúng còn phun một lượng lớn mỡ đá, biến cả đại điện và hai trắc điện trở thành ngọn đuốc khổng lồ.
Người ngoài nghe vậy sẽ chỉ khiếp sợ trước sự tàn bạo của những kẻ đột kích, nhưng với mấy chục năm kinh nghiệm quân sự, Cam Thủ Thành lại cảm thấy buốt lạnh sống lưng. Kẻ đứng sau chỉ huy vụ này phải gan dạ và tự tin cỡ nào mới có thể nghĩ ra một kế hoạch tấn công trực diện vào cơ quan đầu não như vậy.
Cuộc đột kích này cho thấy trình độ cực cao trong việc nắm vững tình báo tiền phương, cũng như tính quyết đoán, nhanh nhẹn trong việc xây dựng và thực thi kế hoạch. Chẳng khác nào một viên tướng nhỏ vô danh, một mình vượt qua trùng trùng bảo vệ rồi chặt đầu thượng tướng ngay giữa vạn quân. Cam Thủ Thành không nghĩ bất kì đội cấm quân nào của kinh thành có năng lực này, thậm chí ngay cả lính biên thùy cũng chưa chắc sánh bằng.
So với việc này, nỗi sỉ nhục khi bị Lý Tất và Hạ Đông ép đánh cược ban nãy chẳng đáng là gì.
“Kiến Càng… Kiến Càng…” Cam Thủ Thành lẩm bẩm hai chữ này, không nhớ ra tổ chức nào có tên như vậy. Điều gì sẽ xảy ra nếu một lực lượng dũng mãnh đến thế tấn công hoàng thành hay tam đại cung thay vì ti Tĩnh An?
Vừa nghĩ đến đó, cổ tay đang cầm roi ngựa của hắn không khỏi run lên, trong lòng phát rét. Lúc này, một kỵ binh chạy như bay tới báo cáo: “Đã tìm thấy Thôi úy!”
Cam Thủ Thành nói: “Bảo hắn ta tới đây!” Thôi Khí nãy giờ vẫn luôn ở đại điện ti Tĩnh An, hắn ta hẳn sẽ biết chi tiết hơn. Nhưng kỵ binh lại tỏ vẻ khó xử đáp: “Việc này… Vẫn phải mời ngài qua đó ạ!”
Cam Thủ Thành cau mày, lắc dây cương rồi đi theo tên lính.
Trước cửa một tiệm thuốc có bán cả dược liệu khô và thuốc sắc sẵn ngay gần ti Tĩnh An, hơn chục người bị thương đang nằm trên tấm vải trải vội, không ngừng rên rỉ. Chủ tiệm và người làm đang bận rộn trộn dầu mè vào cối đá lớn, trước mắt đây là cách bào chế phương thuốc trị bỏng nhanh nhất. Ngoài ra, còn có vài người dân nhiệt tình đang tất tả bưng nước sạch tới. Trước cửa tiệm, mấy kỵ binh Hữu Kiêu vệ đứng canh hai bên, không cho ai đến gần.
Cam Thủ Thành vén rèm bước vào tiệm. Trong tiệm có bốn người, Thôi Khí và hai nam một nữ khác. Ai nấy mặt mũi đen nhẻm nên Cam Thủ Thành chỉ có thể nhận ra một người là Diêu Nhữ Năng.
Thấy hắn đi vào, Diêu Nhữ Năng hoảng hốt, tái mét mặt. Cậu không thể ngờ rằng chính điện giờ đây còn thê thảm hơn nhà giam cả chục lần. Thấy lửa cháy dữ dội, cậu đã gần như phát điên. Tín ngưỡng, niềm tin và tổ chức cậu nguyện trung thành cứ như thế biến thành tro bụi.
Cam Thủ Thành liếc nhìn Diêu Nhữ Năng rồi quay sang Thôi Khí. Tình trạng của gã còn tệ hơn Diêu Nhữ Năng. Lúc này, Thôi Khí đang nằm cứng đơ trên tấm gỗ, phần bụng dưới máu me be bét, dính đầy bột cầm máu sền sệt. Cam Thủ Thành chỉ cần liếc mắt liền biết bột cầm máu không có tác dụng, máu vẫn cứ chảy ra, chắc chắn không cứu nổi nữa. Nghe thấy tiếng bước chân, Thôi Khí bỗng mở trừng mắt, yếu ớt nhìn về phía Cam Thủ Thành, miệng run run.
Cam Thủ Thành vốn không mấy thiện cảm với kẻ phản bội này, nhưng thấy bộ dạng thảm hại hiện tại của gã, nhất thời cũng không biết nói gì cho phải. Hắn chỉ cúi người xuống, hỏi thẳng: “Thôi Khí! Ngươi nghĩ kẻ tấn công là ai?”
Một lúc lâu sau mới có tiếng đáp lại cực kì yếu ớt: “Quân nhân! Tất cả đều là quân nhân…”
Lòng Cam Thủ Thành thoáng trầm xuống. Hắn luôn nghi ngờ rằng phương thức tấn công chuẩn xác và tàn nhẫn như vậy chỉ có thể đến từ những quân nhân chuyên nghiệp. Nếu tin tức này lộ ra thì cả giới quân sự Đại Đường sẽ dậy sóng.
“Có nhìn ra được là lính ở đâu không?” Cam Thủ Thành hỏi tiếp.
Thôi Khí nhắm mắt, khẽ lắc đầu. Cam Thủ Thành thấy gã không ổn, đành từ bỏ ý định hỏi tiếp, vừa an ủi vài câu cho có vừa suy nghĩ miên man. Lúc này, Thôi Khí lại lên tiếng: “Cam tướng quân… lẽ ra ta không nên tới Trường An.”
“Hả?” Cam Thủ Thành giật mình.
“Khi tới kinh thành, ta tưởng rằng mình có thể kiến công lập nghiệp, nhưng đáng ra ta không nên tới. Trường An biến ta thành một kẻ nhu nhược mà chính mình từng khinh thường nhất. Lục Lang à! Đệ muốn về Lũng Sơn, muốn về Lũng Sơn…”
Thôi Khí vừa nhìn lên trần nhà vừa lẩm bẩm, nước mắt chảy dài trên má. Những người xung quanh đều im lặng, không ai nói gì. Gã bỗng dốc hết sức lực, hét lên hai lần: “Lũng Sơn Thôi Khí! Lũng Sơn Thôi Khí!” Tiếng hét im bặt một lúc, hơi thở mới dần bình ổn trở lại.
Văn Nhiễm lặng lẽ ngồi xuống, dùng khăn lau mồ hôi cho Thôi Khí. Cô không biết trước đây người đàn ông này từng làm những việc gì những chính cô đã chứng kiến gã dũng cảm chiến đấu với kẻ thù trước cửa nhà giam. Diêu Nhữ Năng quay đầu đi, ánh mắt ngập tràn bi thương. Cậu nhớ lại lời Trương Tiểu Kính từng nói: Ở thành Trường An, nếu cậu không biến mình trở thành một con quái vật như nó thì sớm muộn gì cũng bị nó nuốt chửng.
Cam Thủ Thành đứng dậy, đặt tay trái lên ngang ngực rồi vỗ vỗ ba cái. Đây là nghi thức giữa những người đồng đội trong quân ngũ. Các cận vệ gần đó thấy vậy cũng đồng loạt thực hiện theo tướng quân.
Trong phòng bỗng có người lên tiếng: “Quân bất văn Hồ già thanh tối bi, tử nhiêm lục nhãn Hồ nhân xuy; xuy chi nhất khúc do vị liễu, sầu sát Lâu Lan chinh thú nhi… Hồ già oán hề tương tống quân, tần sơn dao vọng Lũng sơn vân; biên thành dạ dạ đa sầu mộng, hương nguyệt Hồ già thuỳ hỷ văn?” (Bài thơ ‘Hồ già ca tống Nhan Chân Khanh sứ phố Hà Lũng’ của Sầm Tham. Dịch thơ: Quân nào nghe tiếng sáo Hồ bi ai nhất, cất lên từ chính người Hồ râu tía mắt xanh; Một khúc sáo vẫn còn chưa thổi hết, đã buồn đứt ruột đi làm lính biên ải Lâu Lan… Tiếng sáo Hồ ai oán nay tiễn đưa quân, từ Tần Sơn vọng tận mây Lũng Sơn; đêm biên ải lắm mộng sầu, ai có lòng ngắm trăng thưởng sáo này?).
Bài thơ vịnh về việc trấn thủ biên cương với một nỗi buồn man mác, nhớ nhà trải khắp các câu thơ. Mọi người quay đầu nhìn thì thấy một thanh niên mặt vuông chữ điền, mũi thẳng đang khoanh tay dựa vào tường. Bài thơ vừa nãy do chính người này ngâm lên.
“Bài này ngươi viết hả?” Cam Thủ Thành hỏi.
Sầm Tham chắp tay nói: “Chỉ là tức cảnh sinh tình, ngẫu hứng ngâm mấy câu rời rạc, chưa dám nhận là bài. Tại hạ Tiên Châu Sầm Tham.”
“Thơ hay nhưng không hợp thời. Đang thời thịnh vượng cớ gì phải nói những lời bi thương như vậy.” Cam Thủ Thành thản nhiên bình luận vài câu rồi xoay người đi ra ngoài.
Sầm Tham nói lớn sau lưng hắn: “Tướng quân ngài cảm thấy trong thời thịnh thế này, thực sự chỉ cần những lời nịnh nọt ngon ngọt và ca tụng thôi sao? Thứ gì lòe loẹt thì làm người ta mù mắt, mà người mù thì không nhìn thấy được nguy hiểm đang rình rập.”
Cam Thủ Thành dừng lại. Hắn không hề kinh ngạc trước lời nói của Sầm Tham bởi những lời phàn nàn của đám văn nhân ấy không có gì mới mẻ, mà hắn sững người bởi một phỏng đoán đáng sợ có liên quan đến câu nói cuối cùng của tên kia.
Những kẻ tấn công ti Tĩnh An mang theo dầu hỏa, rõ ràng là đến để phá hoại và sẽ rút lui ngay khi đạt được mục đích. Hành động này không giống như báo thù mà giống một biện pháp phòng ngừa hơn. Ti Tĩnh An là con mắt của cả thành Trường An, một khi bị bịt mắt, thành Trường An sẽ trở thành người mù để kẻ địch muốn làm gì cũng được. Nói cách khác, cuộc đột kích vào ti Tĩnh An chỉ là một phần trong kế hoạch. Những kẻ tấn công đó hẳn có mục tiêu lớn hơn.
Sau khi nghĩ ra điều này, hắn không khỏi toát mồ hôi lạnh. Ở thành Trường An chẳng có mấy mục tiêu lớn được hơn ti Tĩnh An.
Nghĩ vậy, hắn không định dây dưa ở đây thêm nữa, lập tức rảo bước ra khỏi cửa. Bên ngoài vẫn rất hỗn loạn. Đám cháy vẫn rực lửa, không có dấu hiệu nào cho thấy hỏa hoạn sắp được dập tắt. Bảy tám người từ các nha môn khác nhau đứng lẫn vào một chỗ, mỗi người một câu, không ai nghe ai, mạnh ai nấy làm, chủ yếu là vì không có chỉ huy. Điều này khiến cho việc cứu viện và chữa cháy cực kì kém hiệu quả.
Nếu không có trưởng quan mới thì sợ rằng ti Tĩnh An toi đời mất thôi. Cam Thủ Thành thầm nghĩ. Hắn không thích ti Tĩnh An, nhưng phải thừa nhận rằng vai trò truy lùng kẻ địch của ti là không thể thay thế. Giả như ti Tĩnh An có sụp đổ thì sẽ là một đòn giáng mạnh mẽ lên hệ thống an ninh của cả thành Trường An.
Một thanh gỗ rực cháy đột nhiên rơi xuống, đụng trúng vào một xe bò đang chở người bị thương, làm dấy lên một trận kinh hô. Phu xe đã sai khi đỗ xe quá gần hiện trường hỏa hoạn. Trong khi đó, vài người lính đang loay hoay buộc cáng, chuẩn bị khiêng người lên. Nhưng chỗ họ đứng lại chắn ngay chính giữa lối đi, làm người khác không thể khiêng nước qua được nên chỉ đành lùi lại. Song họ không cẩn thận giẫm vào vài cái cáng khác, hai bên lập tức xảy ra cãi vã.
Những sự việc như vậy liên tiếp xảy ra, làm chậm tiến độ cứu viện rất nhiều.
Thấy cảnh những binh lính cấp thấp lúng túng, liên tục mắc lỗi như vậy, Cam Thủ Thành không nhịn được nữa, liền tiến lên một bước, giơ tay phải lên. Lúc này, hắn là quan viên cấp cao nhất ở hiện trường, chỉ cần một cái phất tay là có thể cải thiện được tình hình. Tuy nhiên, sau một thoáng do dự, hắn lại lặng lẽ hạ tay xuống.
Một tướng lĩnh cấm vệ quân nắm quyền chỉ huy hệ thống phòng thủ toàn thành sao? Không được! Việc này phạm vào điều cấm kỵ, tuyệt đối không được làm như vậy. Ti Tĩnh An có thái tử chống lưng nên người tới thu dọn tàn cuộc bắt buộc phải là người phe Đông cung mới hợp lý.
Ủa? Đợi đã! Việc này không nhất thiết phải như vậy.
Một ý tưởng hay ho chợt nảy ra trong đầu Cam Thủ Thành. Hắn gọi một kỵ binh tới, viết một phong thư tay ngay tại chỗ rồi bảo thuộc hạ lập tức gửi đến trung thư tỉnh. Nội dung bức thư rất đơn giản:
> Ti Tĩnh An đang gặp khó khăn, chỉ huy tan tác, e rằng có thể gây hại cho việc trị an trong thành, đề xuất trung ương lựa chọn người tài tổ chức lại công việc của ti.
Hắn thừa biết rằng Lý Lâm Phủ vẫn luôn ngấp nghé đoạt quyền kiểm soát ti Tĩnh An từ lâu, chỉ là mãi chưa tìm được thời cơ thích hợp. Phong thư này có thể dành tặng Lý tướng một lý do quang minh chính đại và là một ân huệ to lớn cho lão. Hơn nữa, hành động này cũng hoàn toàn chính đáng. Vì lo nghĩ cho vấn đề an toàn, tôi, tướng quân Hữu Kiêu vệ, kiến nghị trung thư lệnh lựa chọn trường quan mới tiếp nhận ti Tĩnh An. Một hành động đường đường chính chính, chí công vô tư như vậy sẽ không bị ai nói là vượt quyền hay can chính được. Không chỉ ban được ân tình mà còn giành được đại nghĩa, đồng thời thúc đẩy việc xây dựng lại ti Tĩnh An, đúng là một hòn đá trúng ba con chim.
Còn tình hình hỗn loạn trước mắt thì chịu khó hỗn loạn thêm một lúc nữa. Cam Thủ Thành liếc nhìn đại điện ti Tĩnh An đang chìm trong biển lửa với vẻ mặt tiếc nuối, rồi quất ngựa vội vã rời đi. Hắn phải nhanh chóng quay lại Hữu Kiêu vệ và kiểm tra tình hình an toàn một lần nữa.
Khói đen và lửa đỏ tiếp tục nhảy múa trên bầu trời đêm. Ở những nơi khác thuộc Trường An, những lời ca, điệu múa mừng cảnh thái bình vẫn nhộn nhịp như cũ, người ngắm hoa đăng thì ngày một chật như nêm cối, không một ai mảy may hay biết tất cả những gì đang xảy ra ở đây, càng không biết được việc này có nghĩa là gì.
----------------------------------------
Đàn Kỳ vô cùng choáng váng khi biết tin ti Tĩnh An bị đột kích.
Cô cảm thấy đây chỉ có thể là tin nhảm nhí, sao một chuyện như thế có thể xảy ra được. Đó là ti Tĩnh An cơ mà! Quên mất cả sự dè dặt bình thường, cô túm lấy áo giáp người lính kia, hỏi như quát vào mặt hắn xem rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì. Nhưng người lính đó vốn không có cơ hội tới gần đại điện nên không biết cụ thể mọi chuyện ra sao. Hắn chỉ nghe ngóng được rằng hình như có ai đó đã tấn công ti Tĩnh An, phóng hỏa đốt cháy tất cả nên vội vàng chạy về báo tin.
“Vậy công tử đâu? Lý ti thừa đâu rồi?”
“Không, không rõ nữa!” Người lính lắp bắp trả lời.
Đàn Kỳ hít một hơi thật sâu, đẩy hắn ta ra rồi vội vàng nhảy luôn lên lưng ngựa mà chẳng buồn giẫm lên bục đỡ, sau đó định lắc dây cương rời đi. Lúc này, một người đàn ông bỗng lao ra chặn trước mũi ngựa, bàn tay to lớn nắm chặt lấy dây cương.
“Cô định đi đâu?” Trương Tiểu Kính nghiêm mặt quát.
“Về phường Quảng Đức! Ngươi không nghe thấy ti Tĩnh An bị đột kích à?” Đàn Kỳ lạnh lùng đáp, giọng nói có chút nghẹn ngào.
Trương Tiểu Kính sầm mặt. “Giờ cô quay về cũng chẳng có ý nghĩa gì.”
Đàn Kỳ hét lên: “Ta không chịu sự quản lý của ngươi! Tránh ra!” Thế rồi cô giật lại dây cương, thúc ngựa định hất văng Trương Tiểu Kính ra. Nào ngờ y vẫn ưỡn ngực, đứng yên không nhúc nhích: “Chúng ta còn có việc quan trọng hơn phải làm.”
Đàn Kỳ tức điên lên. Gã vô tình vô nghĩa đến nước này, đúng là kẻ không có trái tim. “Ngươi là tử tù, ti Tĩnh An không liên quan đến ngươi! Nhưng ta không thể không quan tâm công tử!” Nói xong, cô quay sang quát con ngựa, định phóng qua.
Trương Tiểu Kính không cho phép cô tiến về phía trước, con mắt ánh lên cái nhìn hung dữ, hai tay đấm mạnh vào tai ngựa. Con ngựa bị đau, bất ngờ bắt đầu hoảng loạn đá chân sau. Đàn Kỳ không khống chế được nên cứ thế ngã xuống đất.
Cú ngã khiến cô hoa mắt chóng mắt, nằm bẹp trên đất không đứng dậy được. Trương Tiểu Kính bước lại gần, không đưa tay ra đỡ mà chỉ lạnh lùng nhìn cô: “Có Lý ti thừa ở ti Tĩnh An, nếu ngay cả cậu ta cũng không xử lý được thì cô chạy về cũng để làm gì?”
Đàn Kỳ chật vật ngồi dậy, quay mặt đi chẳng buồn nhìn y. Tên đao phủ tàn ác này sao biết được cái gì là tình người. Trương Tiểu Kính nhìn thấu suy nghĩ của cô, không chút thương xót nói: “Đúng! Cô rất quan tâm, cô rất phẫn nộ, cô rất có tình người, nhưng những cảm xúc chó má ấy lại không có chút tác dụng gì trong hoàn cảnh này! Nghe ta nói đây này… Không có chút tác dụng con mẹ nào!”
Những ngôn từ thô tục khiến Đàn Kỳ đỏ bừng mặt. Cô đang định phản bác thì y lại trừng mắt nhìn cô, lớn tiếng quát lại: “Cô cho rằng đây là trò chơi chốn khuê phòng của mấy tiểu thư nhà giàu hay sao?
Muốn đi là đi à? Sai rồi! Đây là chiến trường! Chiến trường không có chỗ cho tình cảm. Bất cứ ai cũng phải tuân theo mệnh lệnh một cách tuyệt đối!”
Đàn Kỳ chưa từng gặp gã đàn ông nào hung ác như vậy, cô bị mắng đến nỗi không ngóc đầu lên được.
“Ở ti ta cũng có bạn tốt, cô cho rằng ta không lo lắng sao? Cô cho rằng ta không muốn lập tức trở về sao? Nhưng nhiệm vụ của chúng ta không phải là bảo vệ ti Tĩnh An! Mà là truy tìm tung tích của Khuyết Lặc Hoắc Đa, bảo vệ thành Trường An. Nếu việc này còn chưa xong thì nhiệm vụ vẫn phải tiếp tục.”
“Cứ, cứ quay về xem sao, xong rồi đi tìm Thủ Tróc Lang…” Đàn Kỳ vẫn cố gắng phân bua.
“Không có thời gian! Cô chỉ có thể chọn một trong hai nơi. Một khi đã lựa chọn, cô phải chấp nhận cái giá của lựa chọn đó.” Trương Tiểu Kính trừng mắt nhìn cô, quay người bước đi vài bước rồi ném lại một câu: “Công tử nhà cô đồng ý cho cô theo ta là vì cậu ta tin rằng cô có thể làm được việc gì đó có giá trị hơn là hầu hạ người khác.”
Nói xong, y bỏ lại Đàn Kỳ đang khóc lớn rồi bước tới cổng điện thờ Ba Tư. Tên Thủ Tróc Lang đang bị hai binh lính áp giải kia cũng đang đứng gần đó. Hắn nom phờ phạc, bất an, không biết tiếp theo là tin lành hay dữ.
Quanh đây không có đồng hồ nước nên không biết hiện tại là canh giờ nào rồi, nhưng e rằng đã qua quá nửa giờ Dậu. Hội hoa đăng ngoài kia đang đúng lúc nhộn nhịp nhất, tiếng huyên náo ngày một ồn ã, ánh đèn hoa cũng ngày một sáng trưng. Trương Tiểu Kính đè nén nỗi lo âu trong lòng xuống, nói ngắn gọn: “Mang theo hắn. Chúng ta xuất phát!”
Thế là binh lính nhét tên Thủ Tróc Lang lên một cỗ xe, vài người lính khác cũng vào ngồi cùng. Một khi họ kéo tấm rèm bên ngoài xuống, người khác sẽ không thể nhìn thấy bên trong thùng xe.
Trương Tiểu Kính dắt con ngựa của mình tới rồi nhảy lên, đang định rời đi thì bỗng một bàn tay bên cạnh nắm lấy dây cương. Con ngựa hoảng sợ hý lên, vó trước tung lên giữa không trung. Trương Tiểu Kính vội vàng kẹp chân, hóp bụng, bám chặt vào lưng ngựa mới không rơi xuống.
Y nhìn sang, thấy Đàn Kỳ đang đứng cạnh ngựa. Khóe mắt cô vẫn long lanh mấy giọt nước mắt chưa kịp lau khô. Gương mặt xinh đẹp như thêm phần tiều tụy, song còn thêm cả vài phần cứng rắn. Cô buông dây cương, ngửa cằm nói: “Bây giờ chúng ta hòa rồi. Đi thôi!”
Trương Tiểu Kính chưa kịp đáp lời thì cô đã quay người, nhảy lên lưng ngựa rồi dùng một sợi dây buộc mái tóc dài lên đỉnh đầu. Làm như vậy thì khi vận động, tóc sẽ không bị tung bay tán loạn. Hơn nữa, cần cổ Đàn Kỳ rất dài, cộng thêm mái tóc đuôi ngựa khiến cô bỗng trở nên già dặn, mạnh mẽ hơn.
Trương Tiểu Kính không bình luận gì, chỉ phất tay ra lệnh xuất phát. Một nhóm người nhanh chóng rời khỏi ngôi đền Ba Tư, cố gắng mở đường thoát khỏi đám đông chen chúc xem hội hoa đăng, chạy nhanh nhất có thể đến phường Bình Khang. Đi được một lúc, cả nhóm đột nhiên tách ra làm hai, rẽ về hai hướng khác nhau ở một ngã tư. Chẳng mấy chốc đã thấy một người đuổi theo sau. Sau một hồi lưỡng lự, gã ta cuối cùng quyết định lựa chọn rẽ sang bên phải.
Gã đuổi một mạch đến cổng phường Ninh Nghĩa thì bỗng mất dấu đội đằng trước. Đang định ngó nghiêng tìm kiếm, gã đột nhiên bị kỵ binh bao vây. Trương Tiểu Kính đi ra từ bóng tối, vừa nhìn thấy kẻ bám đuôi thì vẻ mặt còn kinh ngạc hơn cả đối phương: “Nghi trượng Y Tư?”
“Trương đô úy! Mong ngài vẫn khỏe!” Y Tư ưỡn ngực làm dấu thánh giá ngay trên lưng la. Gã ta vừa mới bị Trương Tiểu Kính mắng cho một trận tơi tả, vậy mà giờ đây đã không hề ngượng ngùng chút nào, cư xử chẳng khác nào gặp lại bạn cũ.
Vừa rời khỏi điện thờ Ba Tư, Trương Tiểu Kính đã phát hiện phía sau mình có một cái đuôi. Họ giăng ra cái bẫy này, vốn cho rằng có thể tóm được một thành viên của Thủ Tróc Lang, nhưng không ngờ lại là vị nghi trượng tự kiêu, ngây thơ của ngôi đền Ba Tư này.
“Ngươi đi theo chúng ta làm gì?”
Y Tư cố gắng ngồi vững trên lưng la. “Ban nãy đô úy nghiêm khắc dạy bảo, thực sự mở mang tầm mắt. Tại hạ đã tự suy ngẫm, tự phân tích cẩn thận, nhận thấy đền ta quả thực đã quá sa đà vào kinh sách mà lơ là kiểm tra nội bộ. Vì vậy, tại hạ quyết định đi theo để san sẻ phiền lo với đô úy. Giúp đỡ được chút nào cũng coi như điện thờ Cảnh giáo không phụ sự ưu ái của triều đình chút ấy.”
Trương Tiểu Kính nghe hiểu một tràng này của gã. Nếu vụ việc Hữu Sát Đột Quyết và hai thích khách Thủ Tróc Lang ẩn náu trong điện thờ bị tố giác, cả ngôi đền sẽ rước họa vào thân. Vì sự tồn vong của Cảnh giáo ở Trường An, Y Tư chỉ đành mặt dày đến giúp đỡ, tốt xấu gì cũng gọi là góp chút công bù lại, Trương Tiểu Kính nheo mắt ngồi trên ngựa, không nói gì. Y Tư thấp thỏm chờ đợi, liên tục hồi hộp nuốt nước bọt. Gã không biết những lời vừa rồi có thể ảnh hưởng đến vị hung thần này không.
Thấy y hồi lâu không đáp, Y Tư chắp tay van nài: “Tu sĩ Cảnh giáo chúng ta truyền giáo ở Trung thổ vốn không dễ dàng gì, khẩn xin đô úy rủ lòng thương xót. Tại hạ nguyện bưng bê chạy vặt, cam nguyện tiên phong. Hơn nữa, đô úy tra án chẳng phải cũng cần một trợ thủ nhanh nhẹn, tinh tường và khôn ngoan sao?”
Nghe vậy, ngay cả Trương Tiểu Kính cũng không nói nên lời. Đàn Kỳ nhẫn nhịn một lúc lâu mới đè nén được ý muốn xông tới, đá kẻ tự luyến đến phát điên này xuống khỏi lưng la. Y Tư cũng cảm thấy những lời vừa rồi của mình không thích hợp lắm nên vội vàng sửa lại: “Khi thương lượng với người Hồ, thân phận vương tử Ba Tư của tại hạ chắc chắn sẽ có ích.”
Cành giáo là một trong ba tôn giáo lớn của người Hồ nên Y Tư nói vậy cũng không hẳn khoa trương, còn cái gì mà ‘vương tử Ba Tư’ thì cứ coi như là gã ta khoác lác đi. Trương Tiểu Kính cuối cùng cũng bị những lời này thuyết phục: “Tùy ngươi! Tuy nhiên ta không thể đảm bảo cho sự an toàn của ngươi.”
Y Tư vui mừng khôn xiết, vội vàng quất la bám theo sau đội hình. Gã gấp rút ra ngoài nên không kịp chuẩn bị ngựa, chỉ có thể dắt bừa một con la. May là đường xá lúc này vẫn còn rất đông đúc nên ngựa hay la cũng như nhau mà thôi. Y Tư không dám lại gần Trương Tiểu Kính, liền lựa chọn sánh vai bắt chuyện với Đàn Kỳ. Cô lại đang một lòng lo lắng cho công từ nên cũng chẳng buồn để ý gã. Thấy vậy, gã chỉ đành lủi thủi theo sau.
Họ cứ vừa đi vừa dừng, khó khăn lắm mới chen qua được đám đông đang trẩy hội hoa đăng để đến phường Quang Lộc. Phía trước là đại lộ Chu Tước, chỉ cần băng qua đó là đến địa phận huyện Vạn Niên, tuy nhiên tới đây xe ngựa thực sự không thể nhúc nhích được nữa. Đại lộ Chu Tước rộng lớn lúc này người như nêm cối, chen chúc nhau thành một mảng đen nghịt, kín mít đến nỗi một cơn gió cũng không thể thổi qua. Tất cả mọi người đều đang chờ xem bạt đăng.
Bạt đăng ở đây không phải hoa đăng hay một ngọn đèn nào, mà là những đội nghệ nhân ca hát, nhảy múa trên những cỗ xe đặc biệt. Những xe bạt đăng này do quan phủ các nơi lựa chọn và gửi đến kinh thành, để lễ hội đèn lồng Thượng Nguyên thêm hoành tráng. Sau khi lên đèn, các cỗ xe này sẽ tiến vào thành từ ba cửa đông, tây, nam rồi chầm chậm đi dọc các con phố, mỗi đoàn lại phô diễn những tài nghệ đặc biệt, cuối cùng tập hợp trước cung Hưng Khánh khi chưa đến canh tư, hay còn gọi là giờ Sửu. Nghệ nhân nhận được lời khen và có phần trình diễn hấp dẫn nhất được gọi là ‘đăng đỉnh hồng trù’. Khi ấy, hoàng đế sẽ ân chuẩn cho ‘đăng đỉnh hồng trù’ được bước lên Cần Chính Vụ Bản Lâu, cùng thắp sáng tháp đèn lồng lớn nhất Trường An, đẩy không khí lễ hội lên tới đỉnh điểm. Đây chính là nguồn gốc của cụm từ ‘bạt đăng’ – kéo đèn lên.
Ngoài việc ngắm đèn lồng, người Trường An còn một thú vui khác là chạy theo những cỗ xe bạt đăng này. Xe đi đâu, họ theo đó. Một số nghệ nhân đặc biệt nổi tiếng sẽ có một lượng người cố định theo sát hàng năm.
Lúc này, ngay chính giữa đại lộ Chu Tước, hai xe bạt đăng vô cùng nổi tiếng đang tranh tài. Một bên là vũ cơ mặc trang phục đỏ tươi đang múa với đàn tỳ bà, một bên là vị hán tử thân trần gõ một dàn trống Hạt, xung quanh và bên cạnh hai người đều có dàn nhạc đệm. Khán giả vây xem chật cứng, rất nhiều người đứng chôn chân tại chỗ, không có ý định rời đi, tay vẫy cao gậy lụa, miệng đồng thanh hét lên mặc cho mồ hôi đầm đìa.
Trương Tiểu Kính sợ rằng đám đông này sẽ không thể giải tán trong vòng nửa canh giờ sắp tới, xe ngựa lớn nhất định không thể đi qua. Y bàn bạc với những người khác và quyết định để một nhóm binh lính hộ tống xe ngựa đi vòng từ phía nam còn mình thì tự đi trước. Một mình cưỡi ngựa băng qua đại lộ Chu Tước nhanh hơn nhiều so với việc kéo theo một cỗ xe.
Trương Tiểu Kính bảo Đàn Kỳ đi cùng xe ngựa nhưng cô trừng mắt nói: “Không phải ngươi luôn nói là mỗi người đều phải chịu trách nhiệm cho lựa chọn của chính mình à? Lúc nãy ngươi còn một mực bắt ta đi theo, giờ lại muốn giũ ra rồi à?” Cô bướng bỉnh chặn đầu ngựa y lại.
Trương Tiểu Kính chỉ đành cười khổ đồng ý. Vì vậy, y cùng với Đàn Kỳ cưỡi ngựa đi trước, những người khác đi đường vòng tới sau. Về ‘cái đuôi’ Y Tư, Trương Tiểu Kính cố tình mặc kệ hắn, thích đi theo thì đi theo, còn nếu đi mà có lạc đường thì cho hắn đáng đời.
Sau khi quyết định xong xuôi, phu xe đánh ngựa quay đầu đi về hướng nam. Trương Tiểu Kính và Đàn Kỳ nhảy xuống ngựa, cuốn vài vòng dây cương vào cổ tay. Hai con ngựa này không có đai đồi mồi trên trán nên không được phép chạy nghênh ngang trên đại lộ Chu Tước. Huống chi con đường này hiện tại quá đông đúc, cưỡi ngựa vẫn không nhanh bằng đi bộ dắt ngựa.
Vậy là hai người sánh vai bên nhau dắt hai con ngựa cố gắng chen qua dòng người đông đúc. Bốn phía đèn hoa lấp lánh, đàn trống hoan ca, thỉnh thoảng lại có những dải vóc buộc đầu hay những đồng tiền xu được ném lên không trung rồi lại rơi xuống đất làm dấy lên những tiếng kinh hô. Cả đại lộ tràn ngập mùi phấn son, mùi mồ hôi và thứ mùi ngây ngấy của hàng ngàn cây nến đang cháy rực khiến người đứng xem ngửi thôi cũng thấy hào hứng.
Hai người hai ngựa lặng lẽ tiến về phía trước, lạc lõng giữa đám đông đang phấn khích. Trương Tiểu Kính cố gắng kiềm chế sát khí và biểu cảm hung ác sao cho không ai chú ý đến. Rất nhiều người đụng phải y rồi mới phát hiện ra ở đó có người.
Đàn Kỳ thỉnh thoảng nghiêng đầu sang, muốn nói gì đó với Trương Tiểu Kính nhưng lại không biết nói gì. Một gã dâm tặc, một tử tù, một Diêm Vương hung thần, một quân tử không chịu để nữ nhân chết thay mình, một tên tay sai hung ác, một viên chức mẫn cán, một hiệp khách… Chỉ trong vài canh giờ ngắn ngủi, Đàn Kỳ đã được chứng kiến rất nhiều bộ mặt của Trương Tiểu Kính, nhưng cô vẫn không thể hiểu nổi gã đàn ông này. Giờ đây, đám đông hỗn loạn này lại như một dòng suối róc rách chảy, rửa sạch lớp sơn cường điệu bao phủ Trương Tiểu Kính, làm lộ ra tư chất vốn có bên trong.
Hai từ ngắn ngủi bật ra trong đầu Đàn Kỳ: cô đơn.
Trương Tiểu Kính trông rất cô đơn. Xung quanh càng náo nhiệt, cảm giác cô đơn ấy càng mạnh mẽ. Dù bước qua nơi thịnh vượng, phồn hoa nhất trên đời, nhưng y và khung cảnh xung quanh vẫn như hai bức tranh riêng biệt, dù gần ngay trước mắt nhưng vẫn vĩnh viễn không hòa quyện vào nhau. Nói theo nghĩa nào đó thì y còn xa trần thế hơn cả công tử.
Nghĩ đến đây, cô bất giác cúi đầu, mu bàn tay siết chặt dây cương, miệng nhẹ nhàng ngân nga Mục hộ ca. Tiếng ca dặt dìu, quấn quýt quanh hai người. Giọng hát tuy khe khẽ nhưng lại chưa từng bị âm thanh ồn ã bên ngoài lấn át. Đây là giai điệu được dân làng vùng Kỳ Sơn dùng để góp vui khi uống rượu phúc thụ lộc sau lễ cúng thần, tuy hơi quê mùa nhưng lại thể hiện được sự chân thành rất riêng. Công tử từng nói rằng giai điệu bài ca này được truyền lại từ thời thượng cổ, thấm đẫm ánh trăng trên trời, soi tỏ lòng người dưới đất, thanh nhã đến nỗi hòa vào thế tục, chỉ là người đời nay không biết mà thôi.
Trong lúc vừa đi vừa hát, Đàn Kỳ bỗng nhiên phát hiện ra Trương Tiểu Kính vốn đang cầm dây cương tiến về phía trước, nhưng những ngón tay của y lại đang gõ lên chiếc vòng đồng ở đầu dây cương, khớp với nhịp điệu của Mục hộ ca. Động tác của y rất khẽ, tựa hồ xấu hổ, sợ bị người khác phát hiện.
Đàn Kỳ mỉm cười, tiếp tục ngân nga mà không nói gì. Hai người một hát một đệm phách rất ăn ý, cứ thế xuyên qua đám đông ồn ào. Dáng đi của Trương Tiểu Kính dường như thoải mái hơn một chút.
Mất hơn nửa khắc, họ mới có thể chen ra khỏi đám đông. Nhìn thấy bức tường phường Hưng Đạo, Đàn Kỳ như trút được gánh nặng, không khỏi thở dài. “Nếu vẫn còn vọng lâu thì tốt quá, ít nhất cũng có thể nhắc trước cho chúng ta biết nơi nào không tắc nghẽn.”
Kể từ sau khi ti Tĩnh An bị tấn công, toàn bộ hệ thống vọng lâu đã ngừng hoạt động. Trên thực tế, hầu hết các vọng lâu vẫn đang hoạt động, nhưng không có đại vọng lâu điều phổi nên chúng chỉ còn là những điểm rải rác, rời rạc. Không có tin tức cập nhật thực tế của thành Trường An, người của ti Tĩnh An không khỏi cảm thấy bất tiện.
Nghĩ đến đây, Đàn Kỳ lại quay đầu nhìn về phía phường Quảng Đức, nỗi lo lắng trào dâng trong đáy mắt. Cô lựa chọn tiếp tục đi tới phường Bình Khang là bởi cô tin rằng nếu công tử là cô thì người cũng làm như vậy. Tuy nhiên, cô vẫn không thể khống chế nổi cảm giác lo lắng của mình.
Trương Tiểu Kính lấy từ túi đeo bên cạnh ngựa một xấp đèn lồng tím đã được gấp cẩn thận. Y căng lại lồng đèn, thắp sáng rồi mở một cây tre dài đã được gấp làm ba đoạn để giương cao đèn lồng lên. Bộ dụng cụ này được nhân viên hiện trường ti Tĩnh An sử dụng để liên lạc với vọng lâu vào ban đêm. Nhưng giờ đây đại vọng lâu đã bị phá hủy, dùng cái này thì có tác dụng gì?
Trương Tiểu Kính giương chiếc đèn lồng màu tím lên, đung đưa lên xuống liên tục, khi thì che lại, khi lại giơ cao. Đàn Kỳ không quen lắm với tín hiệu đèn này, cũng không biết y đang muốn thể hiện điều gì. Trương Tiểu Kính đặt ngón trỏ lên môi, im lặng ra hiệu cho cô chờ đợi xem sao.
Không lâu sau, đèn lồng tím trên vọng lâu phường Hưng Đạo sáng lên, nhấp nháy mấy lần như nhận được tin tức của Trương Tiểu Kính. Ngay lập tức, vọng lâu ở phường Khai Hóa phía nam cũng thắp sáng đèn lồng màu tím, nhấp nháy với tần suất tương tự.
Trương Tiểu Kính tiếp tục vẫy đèn lồng. Các phường Quảng Lộc, Thực Nghiệp ở xa hơn cũng lần lượt đáp lại. Chỉ một lúc sau, các vọng lâu An Nhân, Phong Lạc, Vụ Bản, Sùng Nghĩa… ở các phường xung quanh đều lần lượt thức dậy. Những ánh sáng màu tím nhấp nháy liên tục, chẳng mấy chốc đã hòa vào chung một mạng lưới, tất cả đều ăn khớp với động tác của Trương Tiểu Kính. Cảnh tượng đó chẳng khác nào thiên sư giải hạn.
Trương Tiểu Kính thu cây sào có đèn lồng tím lại, cắm vào cái móc ở sau lưng ngựa rồi mới quay sang nói với Đàn Kỳ: “Hiện tại hệ thống vọng lâu đã hoạt động trở lại. Chỉ có điều trung tâm không phải là đại vọng lâu ở phường Quảng Đức, mà là ta.” Nói đoạn, y giơ ngón cái tay trái lên gõ nhẹ vào ngực.
“Giờ ta ở đâu thì trung khu ti Tĩnh An ở đó.”
Đàn Kỳ mở to mắt, điều này còn thần kỳ hơn cả một trò ảo thuật. Tại sao y lại dễ dàng tiếp quản vọng lâu và trở thành chỉ huy cấp cao nhất như vậy?
Trương Tiểu Kính nhảy lại lên lưng ngựa. Thân ngựa run lên, ngọn đèn tím giơ cao sau mông cũng rung lên mấy cái.
“Đừng quên là giờ Sơ Thân Lý ti thừa đã cho ta quyền giả tiết vọng lâu, mà mệnh lệnh này cũng chưa từng bị thu hồi đâu.”
----------------------------------------
Diêu Nhữ Năng bưng tới cho Văn Nhiễm một ly nước, cô đón lấy rồi uống một ngụm, cảm giác ngay cả nước cũng toàn là mùi khói. Diêu Nhữ Năng áy náy nói: “Xin lỗi cô! Mấy cái giếng đều đã quá tải, chịu khó đợi một lát nhé!”
Văn Nhiễm cười khổ nói: “Còn sống được là tốt rồi. Giờ này còn kén cá chọn canh gì nữa!”
Sau khi Cam Thủ Thành rời đi, bọn họ không có nơi nào để đi nên đành phải ở lại tiệm thuốc. Bên ngoài vẫn hỗn loạn như cũ, ngay cả thi thể của Thôi Khí vẫn chưa được tẩm liệm, chỉ đành xếp tạm bên trên tấm ván.
“Ta có thể về nhà được không?” Văn Nhiễm đáng thương hỏi. Từ trưa đến giờ cô chưa gặp được chuyện nào tốt đẹp. Bị người khác bắt cóc, lại không có thời gian nghỉ ngơi khiến tinh thần cô thực sự kiệt quệ.
Diêu Nhữ Năng làm động tác xin lỗi: “Xin lỗi! Làm như thế là không được phép. Lý ti thừa ra lệnh cho ta nhốt cô lại, còn chưa có lệnh thả ra.” Sợ Văn Nhiễm hiểu lầm, cậu lại vội vàng giải thích: “Hiện tại bên ngoài đang không yên ổn, ở đây vẫn là an toàn nhất.”
“Vì nơi này đã bị cháy rồi?” Văn Nhiễm hỏi ngược lại.
“Ờ…” Diêu Nhữ Năng không ngờ cô hỏi lại hỏi vậy nên chỉ đáp gọn một chữ. Văn Nhiễm mỉm cười, chợt nhận ra vết thương trên vai Diêu Nhữ Năng chỉ được băng bó qua quýt bằng một mảnh vải xô lệch, liền kêu cậu ngồi xuống. Cô cúi đầu xé một mảnh vải ở mép váy rồi cẩn thận băng bó cho cậu.
Ngón tay trắng nõn của Văn Nhiễm khéo léo cuốn quanh mảnh vải, hương thơm thoang thoảng bay vào cánh mũi Diêu Nhữ Năng khiến cậu vội vàng cúi đầu. Cậu thầm nghĩ, thì ra Trương đô úy đã lần theo mùi hương này nên mới tìm thấy cô. Hương thơm ban đầu nhẹ nhàng nhưng lưu lại rất lâu, sẽ thuận tiện cho việc truy đuổi trộm cắp sau này.
Than ôi! Không biết Trương đô úy và Đàn Kỳ cô nương sẽ phản ứng thế nào khi nghe tin ti Tĩnh An bị tấn công? Không biết Khuyết Lặc Hoắc Đa đã được điều tra đến đâu rồi?
Nghĩ tới đây, cậu chợt cảm thấy tình huống này cũng là một cơ hội tốt, liền lên tiếng hỏi: “Cô và Trương đô… ờ, Trương Tiểu Kính đô úy xưng hô như thế nào?”
Văn Nhiễm vừa chăm chú băng bó vết thương vừa nhẹ nhàng trả lời: “Người ấy là ân nhân của ta.”
“Đô úy đã cứu cô?”
Nét mặt Văn Nhiễm có vẻ bi thương: “Không chỉ cứu… mà còn liều mạng vì Văn gia chúng ta.” Diêu Nhữ Năng sửng sốt, sao y lại rơi vào tội tử hình vì nguyên nhân này? Chẳng phải Đàn Kỳ nói là do giết huyện úy sao?
Xung quanh đang không có việc gì nên Văn Nhiễm liền từ từ kể lại câu chuyện.
Thì ra Trương Tiểu Kính và cha của Văn Nhiễm, Văn Vô Kỵ, vốn là đồng đội khi còn làm lính ở Tây Vực. Văn Vô Kỵ cũng chính là một trong ba người may mắn sống sót sau kỳ tích tử thủ thành lũy tiền phương năm đó. Ông ta đã cứu mạng Trương Tiểu Kính, vì thế còn bị mất một chân.
Sau trận chiến cuối cùng đó, Văn Vô Kỵ không thể tiếp tục làm lính được nữa nên lựa chọn xuất ngũ. Ông dẫn con gái cầm theo số tiền thưởng của đô hộ phủ đến Trường An mở tiệm hương, sống một cuộc sống khá đủ đầy. Sau này, Trương Tiểu Kính trở thành bất lương soái của huyện Vạn Niên, hai người đồng đội cũ từng vào sinh ra tử lại thường xuyên chăm sóc lẫn nhau.
Tháng mười năm ngoái, khi Trương Tiểu Kính đang đi làm nhiệm vụ ở nơi khác thì tiệm hương Văn Ký bỗng nhận được thông báo từ bộ Ngu, rằng triều đình muốn xây dựng nhà khách cho sứ thần Tiểu Bột Luật, chọn địa điểm ở phường Đôn Nghĩa. Giá đền bù bộ Ngu đưa ra rất thấp, Văn Vô Kỵ đương nhiên mặc kệ, nhất quyết không nhúc nhích. Không ngờ ban đêm lại có một nhóm du côn bịt mặt đột nhiên kéo tới, cầm gậy gộc xông vào tiệm, đập đánh bừa bãi. Văn Vô Kỵ ra tranh luận với chúng thì bị đánh chết. Văn Nhiễm cũng suýt chút nữa bị cưỡng hiếp, may là cô nhanh nhạy và ngoan cường nên chớp thời cơ thoát ra được.
Văn Nhiễm vốn định đi báo quan, ai ngờ lại đụng trúng phải huyện úy đang đích thân dẫn đội đi tuần tra đêm, một mực cho rằng cô vi phạm lệnh giới nghiêm nên bắt cô về. Cô khóc lóc đủ kiểu nhưng không ai thèm để ý, kết quả vẫn bị tống vào ngục sâu. Không lâu sau, chúng đưa tới một tờ khai, yêu cầu cô thú nhận việc cha mình cấu kết với bọn giặc cướp và bị đánh chết do chia của không đều, còn tiệm hương liệu thì được mua bằng tiền ăn trộm. Nếu cô từ chối không điểm chỉ vào tờ khai này thì sẽ bị bán làm nô lệ.
Văn Nhiễm nghe xong kiên quyết từ chối, kết quả bị mấy tên cai ngục đè xuống, ấn dấu tay cô lên tờ giấy. Lòng cô hoàn toàn tuyệt vọng, từng nhiều lần nghĩ tới cái chết.
Vài ngày sau, cô bất ngờ được thả ra. Văn Nhiễm hỏi han mới biết rằng bên ngoài hết thảy đều đã bị đảo lộn. Trương Tiểu Kính về kinh, sau khi biết chuyện xảy ra với tiệm hương Văn Ký thì gần như đã nhổ tận gốc bang Hùng Hỏa, còn sau đó không rõ vì sao mà giết chết huyện úy huyện Vạn Niên, khiến cho công đường huyện này một phen rung chuyển. Cuối cùng, y còn bắt cả Vĩnh vương, gần như muốn làm loạn đến tận ông trời.
Những khúc mắc trong câu chuyện tại sao Trương Tiểu Kính lại tìm tới cả Vĩnh vương, rồi tại sao bị bắt và kết án tử hình, Văn Nhiễm cũng không rõ. Cô chỉ biết rằng kể từ đó, tiệm hương Văn Ký được bình an vô sự, không ai đến gây phiền phức cho mình nữa. Một cô nương chân yếu tay mềm, không chỗ nhờ cậy như cô không đủ quyền thế để đi gặp ân công nên chỉ có thể ngày ngày dâng hương cầu nguyện.
Cô cứ thủ thỉ nhẹ nhàng như thế, cuối cùng vô thức tựa vào cánh tay Diêu Nhữ Năng, ngủ say lúc nào không hay.
Diêu Nhữ Năng không động đậy, nhưng trong lòng cậu đang dậy sóng. Cậu không chỉ kinh hãi trước hành vi của Trương Tiểu Kính, mà còn kinh sợ trước lòng tham đen tối của những kẻ kia.
Huyện úy vốn thường không đích thân tuần tra đêm nhưng đêm đó lại xuất hiện, chứng tỏ đã sớm cấu kết với đám người ở bộ Ngu và bang Hùng Hỏa. Một bên là gậy gộc của bọn xã hội đen, một bên là sự ép buộc từ phía quan phủ, hai bên phối hợp ép chết Văn Vô Kỵ rồi đoạt lấy tiệm hương Văn Ký. Cậu tin rằng Trương Tiểu Kính cũng đã nhìn ra điều này lên mới nổi điên giết người.
Diêu Nhữ Năng đã nghe rất nhiều về mặt tối của quan lại, nhưng đây là lần đầu tiên cậu biết được một câu chuyện độc ác, tàn nhẫn đến vậy. Một gia đình đủ đầy bỗng chốc tan cửa nát nhà, nhưng ít nhất còn có Trương Tiểu Kính hy sinh mạng sống để bảo vệ, nếu đổi lại là một gia đình khác thì kết quả sẽ còn bi thảm hơn. Trương Tiểu Kính nói Trường An là một con thú khổng lồ ăn thịt người quả không quá chút nào. Cuối cùng cậu cũng hiểu được tại sao y lại phẫn nộ như vậy mỗi khi nhắc tới triều đình.
“Thở dài một tiếng ngăn dòng lệ chảy, thương xót dân đen nhiều đau khổ.” Một tiếng thở than bỗng truyền tới từ bên cạnh. Diêu Nhữ Năng quay đầu lại, thấy Sầm Tham đang dựa vào cây cột trên hành lang, cũng bị cuốn vào câu chuyện vừa rồi.
Diêu Nhữ Năng hiểu hai câu thơ gã vừa ngâm mang ý thương xót, đau lòng. Sầm Tham lại khen: “Lời cô ấy vừa kể chỉ cần trau chuốt, giản lược đi một chút là có thể trở thành một tác phẩm hay, vừa mang tính trào phúng, vừa mang tính thời sự dựa trên sự kiện có thật.” Gã cúi đầu định tìm bút để ghi chép lại nhưng phát hiện ra túi thơ đã bị cháy từ lâu, chỉ đành lục lọi những ngăn tủ trong tiệm thuốc xem có giấy, bút nào không.
Diêu Nhữ Năng ngơ ngác hỏi: “Cái này cũng có thể đưa vào thơ à?”
Sầm Tham tức giận khua tay. “Sao lại không đưa vào được? Thơ ca ngày nay rặt những thứ hoa mỹ, khoe khoang, phù hoa, lãng phí, động một tí là ‘thi tại viễn phương’, tìm kiếm những thứ lý tưởng xa vời, không chịu nhìn thẳng vào sự tạm bợ trước mắt. Cần phải có người khởi xướng nên phong trào thơ mới, viết vì việc thật chứ không viết vì văn thơ.” Nói xong, gã lại vùi đầu vào lục tủ.
Diêu Nhữ Năng bất lực thúc giục: “Các hạ chỉ là tạm thời bị bắt giữ ở ti Tĩnh An, nếu muốn rời khỏi đây thì có thể đi bất cứ lúc nào.”
Ban đầu, Sầm Tham bị giam là bởi cản trở Trương Tiểu Kính xử án nên bị nghi ngờ có liên quan đến lang vệ Đột Quyết. Hiện tại thân phận của gã đã được làm rõ nên có thể thả ra, hơn nữa nếu có giữ lại thì cũng chẳng có chỗ nào để giam.
Sầm Tham ngẩng đầu lên từ sau quầy hàng, giọng tức giận: “Đi? Giờ ta không thể đi được. Ngựa và thơ của ta đều mất rồi, các người phải bồi thường cho ta.”
“Ngựa thì còn có thể bồi thường bằng tiền… Thơ thì sao đền được?”
“Được! Rất đơn giản, để ta đi theo các ngươi là được.” Sầm Tham vênh mặt tự hào vì kế hoạch thông minh của mình. “Ta vẫn luôn quan sát chuyện của Văn Nhiễm cô nương, chuyện của Thôi Khí, chuyện của ngươi, chuyện của Trương Tiểu Kính kia và cả chuyện ti Tĩnh An các ngươi truy bắt người Đột Quyết… Ngươi cũng hiểu về thơ từ chứ? Có biết rằng những việc này là nguồn tư liệu quý giá nhường nào với thi gia chúng ta không?”
Diêu Nhữ Nấng hơi sững người, trong mắt gã này, mọi việc đều chỉ là nguồn tư liệu văn thơ thôi sao? Cậu lắc đầu nói: “Xin lỗi! Ta không hiểu thơ. Ta chỉ biết một chút vần.”
Sầm Tham vừa nghe vậy liền hưng phấn hẳn lên, luôn miệng bảo thế là đủ để nói chuyện đơn giản rồi. Diêu Nhữ Năng cười khổ, vội vàng giải thích rằng cậu hiểu vần là vì tin tức truyền qua vọng lâu dựa trên cơ sở Đường Vận, chẳng liên quan gì đến thi ca cả. Không ngờ Sầm Tham lại càng tò mò, một mực đòi cậu giải thích tới cùng xem truyền tin tức bằng Đường Vận là như thế nào. Diêu Nhữ Năng chống tay lên trán, hối hận vì mình đã quá nhiều lời. Cậu bảo Sầm Tham mở cửa sổ, từ đó có thể nhìn thấy chiếc đèn lồng treo trước cổng chùa Từ Bi phía xa. Diêu Nhữ Năng chỉ vào chiếc đèn lồng ấy, giải thích ngắn gọn nguyên tắc sử dụng trống vào ban ngày và đèn lồng vào ban đêm để thực hiện các thông điệp dựa trên vần của vọng lâu.
Sầm Tham khen ngợi: “Dùng trống và đèn để truyền tải vần, rồi lại dùng bộ vần để truyền tải thông tin, thật tài tình! Là ai nghĩ ra cách này vậy? Quả là một bậc đại tài! Xem ra sau này ta không phải bôn ba khắp nơi, mà chỉ cần dùng một cái trống là thơ của ta có thể được truyền đi bốn phương tám hướng để toàn thành đều biết!”
Khóe miệng Diêu Nhữ Năng giật giật. Cậu đang cố gắng đè nén ý định phản bác, thầm nghĩ: Ngươi vui là được. Sầm Tham nhìn ra ngoài, bắt đầu luyện tập với đèn lồng, miệng lẩm bẩm. Gã đang thử chuyển thơ của mình thành tín hiệu đèn.
Lúc này, cánh cửa bị đẩy sầm một cái. Một tiểu lại mặc áo da sáng màu bước vào. Hắn nhìn xung quanh rồi quát lớn: “Có ai của ti Tĩnh An ở đây không?”
Diêu Nhữ Năng trông người này có vẻ lạ mặt, ngập ngừng giơ tay ra hiệu. Tiều lại nói: “Ti thừa ti Tĩnh An có lệnh, tất cả những quan lại của ti còn động đậy được đều phải đến tập hợp trước chùa Từ Bi nhận chỉ thị.” Diêu Nhữ Năng ngẩn ra, chẳng phải Lý Tất đã bị bắt đi rồi sao? Chẳng lẽ được cứu về rồi à? Tên tiểu lại liếc cậu một cái, rồi nói: “Là ti thừa ti Tĩnh An tân nhiệm.” Nói xong, hắn vội vàng rời đi để tiếp tục thông báo cho những người khác.
Nhanh như vậy mà đã có người tiếp quản rồi ư? Diêu Nhữ Năng không khỏi cảm thấy hơi khó chịu. Nhưng Lý ti thừa bị bắt đi, chưa rõ tung tích, quả thật cũng cần có người nhanh chóng bình ổn lại cục diện. Nếu người đó là Trương Tiểu Kính thì tốt biết bao, đáng tiếc là điều này là không thể.
Cậu nhẹ nhàng đặt Văn Nhiễm đang ngủ say xuống chiếu rồi chào Sầm Tham. Sầm Tham xua tay nói: “Cậu cứ đi đi! Tôi sẽ để ý cô nương này”, nói đoạn tiếp tục tập trung tìm giấy bút.
Cổng chùa Từ Bi cách ti Tĩnh An không xa, trước cổng có một quảng trường rất rộng. Tất cả du khách ngắm đèn lồng đều đã được lùa đi sạch sẽ, các hòa thượng cũng đã đóng chặt cửa lại, mấy chục người đang đứng trên quảng trường lúc này đều là những nhân sự của ti Tĩnh An may mắn sống sót còn có thể động đậy được, mặt mũi ai nấy đều nhuốm một màu bi thương.
Diêu Nhữ Năng đếm một lượt, nhận thấy số lượng hiện tại chỉ bằng một phần ba số lượng trước khi xảy ra sự việc. Nói cách khác, gần một trăm đồng nghiệp của cậu đã chết trong cuộc tập kích này. Lòng cậu chùng xuống. Lúc này, người quen nhìn thấy nhau, còn chưa kịp hành lễ thì nước mắt đã lã chã tuôn rơi. Ngoài việc vui mừng vì đã sống sót sau thảm họa thì những điều khác vẫn cứ nghẹn trong cổ họng.
Không lâu sau, một tiếng chiêng vang lên. Hơn hai mươi binh sĩ ùa tới từ bốn phía, mỗi người cầm một ngọn đuốc trên tay, chiếu sáng cả quảng trường. Một quan viên thong thả bước tới trước cổng chùa Từ Bi, đứng trên bậc tam cấp nhìn xuống dưới. Người này trên dưới bốn mươi tuổi, vóc người cao to, gò má cao làm sống mũi cũng bị đẩy nhô ra trước, tưởng chừng như có thể nhảy ra khỏi mặt bất cứ lúc nào. Ông ta có một bộ râu rất đẹp dưới cằm, bóng loáng dưới ánh đuốc, vừa nhìn liền biết phải tốn nhiều công chăm sóc lắm.
Diêu Nhữ Năng nhận thấy người này mặc quan bào màu lục nhạt, trên ngân đại có được khảm bảy miếng đồng sáng bóng, đó chính là đai lưng của quan thất phẩm, thấp hơn một bậc so với Lý Tất.
Tiếng chiêng lại vang lên kêu gọi sự chú ý của mọi người. Viên quan cầm trên tay một ấn đồng vuông vức, cao giọng nói với phía dưới: “Như chư vị đã biết, bản quan là Tả tuần sứ, Điện trung Thị ngự sử Cát Ôn. Nay phụng mệnh Trung thư đến tái tổ chức lại ti Tĩnh An. Mọi người lập tức trở về vị trí, không được trì hoãn.”
Thân phận này không khỏi khiến những người có mặt trên quảng trường xôn xao bàn tán. Họ biết rằng đứng sau ti Tĩnh An là Đông cung nhưng giờ Trung thư lệnh lại bổ nhiệm một ngự sử đến tiếp quản, điều này nghe có vẻ rất kì lạ.
Cát Ôn rõ ràng là đã có chuẩn bị trước khi tới đây. Ông ta vừa gật đầu ra hiệu, lập tức có một viên quan khác đi tới, trên tay cầm một cuốn tài liệu dày cộp. Viên quan đó mở cuốn tài liệu ra, đọc to rõ ràng mạch lạc, giọng nói vang vọng cả quảng trường: “Cuốn thứ mười ba của Đại Đường Lục Điển, Ngự sử đài Điện trung Thị ngự sử, có viết: Phàm lưỡng kinh(*) [Sec-26.xhtml#n53] nội phân tả, hữu tuần phân chia kiểm tra việc phi pháp trong phạm vi của mình. Hễ tả giáng(*) [Sec-26.xhtml#n54], lưu đày mà lẩn trốn không đi, hay yêu ma, lang chạ, cờ bạc, trộm cắp, án oan thì theo cương điển các châu; mậu dịch, băng nhóm, thu thuế không như luật định và những việc tương tự thì đều phải dâng tấu. Chưa hết! Trong Bách Quan Cách: Tả tuần tri phụ trách trong kinh thành, Hữu tuần tri phụ trách ngoài kinh thành cho tới tận ranh giới hai châu Ung, Lạc, mỗi tháng một vòng đến tận cuối tháng, tức tuần tra bộ Hình, Đại lý, các phường chợ Tây, Kim Ngô, huyện lao”
Khi những điều khoản trúc trắc trong quan điển được đọc ra trước mặt mọi người, người của ti Tĩnh An dần dần hiểu được.
Điện trung Thị ngự sử có hai chức vụ: Tả tuần sứ và Hữu tuần sứ. Họ có quyền giám sát những việc phạm pháp ở hai kinh đô, mà ti Tĩnh An lại phụ trách việc trị an của Tây kinh nên trách nhiệm của ti Tĩnh An và Tả tuần sứ có những điểm trùng nhau, có thể nói là cùng việc nhưng không cùng một quan. Dù từ góc độ pháp lý hay nhiệm vụ thực tế, thì việc để một Tả tuần sứ đến tiếp quản ti Tĩnh An không có gì là không thỏa đáng. Vị ngự sử họ Cát này vừa không ra oai uy quan lớn, vừa không ỷ vào quyền hành của Trung thư lệnh để áp bức mọi người, không những thế còn công khai tuyên đọc quan điển, cho thấy ông ta là người tuân thủ pháp lệnh. Tình thế rắn mất đầu, lòng người hoảng loạn hiện tại quả thực cần một người dọn dẹp tàn cuộc. Hơn nữa vị ngự sử này còn được Trung thư lệnh trao quyền thì hà cớ gì phải chống lại ông ta?
Địch ý trong lòng mọi người dần vơi bớt, những tiếng xì xào bàn tán cũng dần yên ắng lại. Cát Ôn vuốt râu, lại nói: “Ti Tĩnh An bị bọn xấu áp chế, bản quan đau lòng khôn xiết. Nhưng hiện tại kẻ đầu sỏ vẫn chưa chịu trói, kẻ địch cứng đầu vẫn còn đó, mong chư vị hãy nén đau thương mà nghĩ cho thiên tử, coi việc bắt giặc làm đầu, sau đó mới cúng tế anh linh.”
Câu này nói rất hay, không những chỉ ra tình hình cấp bách hiện tại, mà còn ngụ ý rằng triều đình nhất định sẽ trọng thưởng. Những quan lại còn may mắn sống sót của ti Tĩnh An từ lớn đến nhỏ đều lần lượt khom người thật sâu hành lễ. Đây là cách quan cấp dưới bái kiến quan cấp trên và thừa nhận ông ta chính là ti thừa mới của ti Tĩnh An.
Thấy hầu hết mọi người đã bị thu phục, Cát Ôn lấy làm đắc ý, quay sang nói với viên quan vừa đọc quan điển ban nãy: “Công Phụ à! Chiêu này của ngươi nhìn có vẻ thô lỗ mà lại thực khéo léo. Quả là hiệu nghiệm!” Viên quan kia cười nói: “Tại hạ còn lừa đoan công ngài được sao. Giờ thì mau rèn sắt khi còn nóng, cứ nói theo những gì chúng ta đã bàn trước đó đi ạ!”
Đương thời, Thị ngự sử thường được gọi là ‘đoan công’ Điện trung Thị ngự sử thì được gọi là ‘phó đoan’. Viên quan kia cố tình gọi cao hơn một bậc, Cát Ôn nghe xong thì lấy làm vui mừng, cầm ấn đồng lên nói: “Chư vị nghe lệnh!”
Đây là mệnh lệnh đầu tiên của ông ta sau khi nhậm chức, thế nên mọi người đều im lặng lắng nghe.
Cát Ôn cất cao giọng nói: “Việc ti Tĩnh An bị tập kích ắt phải có sự cấu kết của nội gián. Muốn bắt kẻ bên ngoài thì trước tiên bắt buộc phải yên bên trong, vậy nên nhiệm vụ quan trọng tiếp theo sẽ là phải tìm ra con sâu làm rầu nồi canh này. Ta đã tra rõ thân phận của kẻ đó…” Ông ta quét mắt một vòng, phát hiện mọi người đều đang nhìn chăm chú vào mình thì không khỏi hài lòng trước phản ứng này, sau đó từ từ nói ra một cái tên: “Đô úy Tĩnh An, Trương Tiểu Kính! Hắn ta chính là nội gián cấu kết với Kiến Càng.”
Kết luận này lập tức khiến mọi người bên dưới xôn xao.
Nụ cười trên mặt Cát Ôn chợt tắt: “Chư vị có thể không biết, trước đây Trương Tiểu Kính từng bị phán án treo cổ chính vì giết chết thượng cấp. Có câu ‘Giang sơn dễ đổi bản tính khó dời’, nếu đã có một lần thì khó tránh khỏi có lần thứ hai. Trong vụ việc con gái Vương Trung Tự bị bắt cóc trước đó, hắn ta cũng có phần. Giờ đây, ti Tĩnh An bị tập kích nhất định cũng là do hắn dẫn sói vào nhà. Truyền lệnh cho tất cả các trạm gác ở các phường, toàn thành truy nã kẻ này, bất kể còn sống hay đã chết!”
Nguyên Tái đứng bên, chậm rãi cuộn cuốn quan điển lại, khóe môi nhếch lên một nụ cười gian xảo. Nghe nói những kẻ tấn công ti Tĩnh An tự xưng là Kiến Càng. Kiến Càng ư? Chẳng phải quá hợp với một kẻ hèn hạ như Trương Tiểu Kính sao?