Virtus's Reader
Trường An 12 Canh Giờ

Chương 14: Mục 15

SƠ TÝ[11 GIỜ ĐÊM]

Nhìn thấy Đàn Kỳ, Thái Chân vừa kinh ngạc, vừa không khỏi mừng rỡ. Nàng ở trong cung đã lâu, hiếm hoi lắm mới có cơ duyên gặp lại người cũ. Thái Chân nắm tay Đàn Kỳ, thân thiết hỏi: “Lâu lắm rồi không nhìn thấy muội. Gần đây muội vẫn khỏe chứ?”

Sơ Tý, ngày 15 tháng Giêng năm Thiên Bảo 3.

Phường Quảng Đức, huyện Trường An, thành Trường An.

Nguyên Tái chán nản quay về Kinh Triệu phủ.

Khó khăn lắm hắn ta mới bắt được Văn Nhiễm, không ngờ lại gặp phải Vương Uẩn Tú, càng không ngờ hai người họ lại quen biết nhau, hơn nữa còn có vẻ vô cùng thân thiết.

Lang vệ định bắt cóc Vương Uẩn Tú nhưng lại bắt nhầm Văn Nhiễm, bang Hùng Hỏa định bắt cóc Văn Nhiễm thì bắt nhầm Vương Uẩn Tú. Nhầm lẫn tai hại này khiến hai cô gái chân yếu tay mềm kinh qua muôn trùng khó khăn, khiếp sợ.

Nguyên Tái hiểu rõ đầu đuôi câu chuyện nên không khỏi đau đầu. Nếu khăng khăng bắt Văn Nhiễm thì buộc phải giải thích rõ ràng cho Vương Uẩn Tú. Nhưng càng giải thích thì cái cớ ‘Trương Tiểu Kính bắt cóc Vương Uẩn Tú’ lại càng nhiều sơ hở.

Hơn nữa, một cô nương bình thường như Văn Nhiễm lại có thể dính líu từ bang Hùng Hỏa đến cả Vĩnh vương.

Văn Nhiễm là phụ, Vương Uẩn Tú mới là yếu tố cốt lõi và kế hoạch liên quan đến cô không được phép xảy ra bất kì sai sót nào. Sau khi cân nhắc thiệt hơn, Nguyên Tái chỉ đành tạm thời thả Văn Nhiễm đi, để Vương Uẩn Tú đưa cô ta về vương phủ.

Để đảm bảo không xảy ra thêm chuyện ngoài ý muốn nào nữa, đích thân Nguyên Tái cũng leo lên xe ngựa của Vương Uẩn Tú. Trong khi Văn Nhiễm đang run sợ trong lòng thì Vương Uẩn Tú lại vui mừng ra mặt. Nàng chỉ nói một câu mà Nguyên Tái đã lập tức đồng ý, chứng tỏ ý kiến của nàng rất quan trọng với đối phương.

Nguyên Tái tiễn hai người họ về tận cổng lớn nhà họ Vương rồi mới quay lại Kinh Triệu phủ. Một kế hoạch tưởng chừng như hoàn hảo bỗng xuất hiện một vết xước, không khỏi khiến lòng hắn ngập tràn tiếc nuối.

Chỉ còn Trương Tiểu Kính nữa thôi!

Hắn trầm ngâm bước xuống xe, đang cân nhắc xem tiếp theo phải làm thế nào để bắt được tên hung đồ nham hiểm bậc nhất thành Trường An kia thì bỗng nhác thấy hai người đang đi ra khỏi cổng Kinh Triệu phủ, một người trong số đó nom bộ dạng có vẻ kỳ lạ. Nguyên Tái vốn có tài quan sát, hắn nheo mắt lại, phát hiện đó là một người Ba Tư, không chỉ vậy, đối phương còn mặc áo thầy thuốc màu xanh.

Xưa nay chỉ có người Đường đảm nhận công việc ở các y quán trong thành Trường An. Người Hồ hiếm khi hành nghề y, dù có thì cũng chỉ tư vấn riêng, không bao giờ mặc áo bào xanh của các y quán. Hơn nữa, Cát ti thừa đã ban lệnh bài Hồ, sao vẫn còn một người Ba Tư ở đây?

Lẽ nào… hắn ta chính là một trong những kẻ tập kích trà trộn vào Kinh Triệu phủ?

Nghĩ vậy, Nguyên Tái chợt sinh lòng cảnh giác, tiếp tục nhìn theo hai người kia. Càng nhìn, hắn càng thấy nghi ngờ. Sao kẻ kia không đeo túi chẩn bệnh? Sao lại đi giày cỏ chứ không phải giày da hay giày dùng ở y quán? Điểm đáng nghi nhất chính là vị trí vết bẩn trên áo hắn. Thông thường, khi chữa trị ngoại thương, thầy thuốc sẽ phải khom người về phía trước. Khi ấy, vạt áo đằng trước rất dễ bị dính bẩn. Nhưng vạt áo của kẻ kia lại rất sạch sẽ, trong khi vết bẩn nằm ở ngay bên dưới ngực áo. Điều này gần như là không thể… Trừ khi chiếc áo này vốn không phải của hắn, mà thuộc về một người nào đó thấp hơn.

Nguyên Tái nhìn sang gã đi cùng. Trông y giống như bệnh nhân, quần áo không có gì kỳ lạ nhưng người ngợm nhem nhuốc bắn thỉu đến nỗi không nhìn rõ mặt. Thế nhưng, bước chân kẻ này lại khiến Nguyên Tái giật mình sợ hãi. Gần như khoảng cách mỗi bước đi rất đều nhau trong khi cơ thể luôn vững vàng.

Chỉ có một kiểu người bước đi như thế: quân nhân.

Nguyên Tái nhớ mang máng không chỉ một người từng nói rằng hình như đám người tấn công ti Tĩnh An xuất thân lính tráng. Chẳng lẽ đây chính là một kẻ trong số chúng?

Hắn không vội vàng lên tiếng. Bắt mỗi hai kẻ này không bõ bèn gì, chi bằng thả câu dài xem có bắt được con cá lớn nào không. Nguyên Tái mừng thầm. Đêm nay hắn quả thực vô cùng may mắn, không chừng còn thuận lợi lần ra được hang ổ của Kiến Càng.

Hắn âm thầm gọi một bất lương nhân đến rồi rủ rỉ dặn dò đối phương vài lời.

----------------------------------------

Trương Tiểu Kính và Y Tư thuận lợi ra khỏi Kinh Triệu phủ mà không bị ai cản đường, điều này khiến họ không khỏi thở phào nhẹ nhõm.

Sau khi ra ngoài, Y Tư liền hỏi xem tiếp theo họ nên làm gì. Trương Tiểu Kính quơ quơ chiếc túi đựng đầy đầu tre vụn trong tay, bảo đi tìm chuyên gia giám định đống này. Nghe vậy, Y Tư không phục, hất hàm đáp: “Còn ai có nhãn lực tinh tường hơn ta nữa?”

Trương Tiểu Kính ngước nhìn làn khói đen bốc lên từ đại sảnh ti Tĩnh An, bùi ngùi nói: “Trong đại điện ti Tĩnh An từng có một sa bàn mô hình thu nhỏ thành Trường An, vô cùng tinh xảo, phải nói là tay nghề điêu luyện. Ta muốn tìm người thợ thủ công làm ra sa bàn đó.”

Trương Tiểu Kính từng nghe Đàn Kỳ giới thiệu sơ qua. Khi xây dựng ti Tĩnh An, Lý Tất từng yêu cầu một đại sa bàn mô phỏng y hệt thành Trường An phía bên trong đại điện. Không ít thợ thủ công đã chùn bước trước nhiệm vụ khó khăn này, cuối cùng chỉ có duy nhất một người thợ tên Triều Phân có thể hoàn thành kiệt tác.

Điều thú vị là Triều Phân vốn không phải người Trung Nguyên mà xuất thân từ vùng Izumo, Nhật Bản, đi theo sứ thần sang Đại Đường học nghề. Người này trời sinh có tài, cộng thêm mười năm kiên trì khổ luyện ở Trường An nên tài nghệ càng thêm xuất chúng.

Chủ nhân của Triều Phân chính là Vệ úy thiếu khanh Triều Hoành, cũng là một người Nhật danh tiếng lẫy lừng.

Triều Phân sống ở phường Thực Nghiệp, cách không xa nơi Trương Tiểu Kính và Y Tư đang đứng. Trong thành Trường An, nếu nói có người có thể nhìn ra manh mối từ những món đồ tre nứa này thì người đó chỉ có thể là Triều Phân.

Nghĩ vậy, hai người liền rời khỏi phường Quảng Đức, một lần nữa hòa vào biển người, chẳng mấy chốc đã đi tới phường Thực Nghiệp. Nơi đây nằm ngay phía tây đại lộ Chu Tước, cũng là một khu vực phồn hoa náo nhiệt trong thành nên cổng phường san sát những giá đèn rực rỡ và muôn phần xa hoa.

Không hiểu sao cấu tạo của những chiếc hoa đăng nơi đây lại độc đáo hơn ở những nơi khác. Ví dụ, mỗi khi gió thổi qua, những chiếc vảy trên đèn lồng kim long cũng khẽ bay lên làm con rồng sống động vô cùng, hay như lá quả đào trên tay Thọ tinh cũng có thể đong đưa lên xuống như vẫn còn trên cây. Đây chỉ là những thay đổi rất nhỏ so với những chiếc đèn lồng thông thường, nhưng lại giống như một nét chấm phá vi diệu tạo nên tuyệt tác.

Chính vì vậy, lượng người tập trung ngắm đèn quanh khu vực phường Thực Nghiệp cũng vô cùng đông đúc. Y Tư lo lắng nói: “Những chiếc đèn lồng này hẳn cũng là từ bàn tay khéo léo của người thợ lành nghề kia, giờ ông ấy có thể ngồi yên ở nhà được sao? Cái gì của mình chẳng quý, chắc hẳn ông ấy đang đi khắp nơi thích thú thưởng thức thành quả rồi.”

Trương Tiểu Kính chẳng buồn phàn nàn Y Tư vì việc gã ta tùy tiện sử dụng thành ngữ nữa, y chỉ chau mày đáp: “Tận nhân sự, thính thiên mệnh. Cứ cố hết sức mình đi, còn lại thì phó mặc cho số phận.”

Hai người tách khỏi đám đông để đi vào bên trong phường, nơi có những chiếc đèn lồng nhỏ giăng đầy khắp lối nom rất xinh đẹp. Triều Phân có thể coi là một nhân vật có tiếng tăm ở phường này, nên chỉ cần hỏi thăm một chút là đã biết được nơi ở của ông.

Đó là một cánh cổng bình thường, mộc mạc nằm ở góc đông bắc một ngã tư. Nếu ngoài cổng không treo một chiếc đèn lồng viết ‘Triều phủ’ thì không ai dám tin rằng đây là nơi ở của một thợ thủ công bậc thầy đã làm ra sa bàn mô hình thành Trường An.

Trương Tiểu Kính bước tới gõ cửa. Ngay sau đó, một người nhìn như đồ đệ ra tiếp đón, đáp rằng thầy mình đang ở bên trong. Vừa bước vào, cả Trương Tiểu Kính và Y Tư đều không khỏi sửng sốt.

Sân viện đầy những tre, gỗ, bùn, đá ngập cả lối đi, gần như không chừa ra một khoảng trống nào để đặt chân. Những sản phẩm dở dang như ly đồng, tượng gỗ, bình sắt, gốm sứ… chất thành từng đống nhỏ. Ngay cạnh sân, trước một lò nung đang cháy hừng hực, một người đàn ông dáng thấp nhưng lực lưỡng đang ngồi nhìn chằm chằm vào cửa lò. Cơ thể màu đồng săn chắc bóng nhẫy mồ hôi như phát sáng dưới ánh lửa.

Y Tư thấy vậy thì không khỏi sửng sốt. Giữa một dịp náo nhiệt như hội hoa đăng, gã này không những không ra ngoài chơi mà còn ngồi thu lu trong nhà làm việc, há chẳng phải kỳ quái lắm ư?

Trương Tiểu Kính tiến lại gần, hắng giọng ho một tiếng. Gã lùn kia như không nghe thấy gì, chẳng buồn ngoái đầu lại. Cậu đồ đệ chỉ đành lí nhí giải thích: “Một khi thầy tôi trông bếp lò thì mấy ngày liền không ăn không ngủ, cũng chẳng buồn để ý đến người khác…”

Trương Tiểu Kính đương nhiên không có ý định buông tha, tiếp tục tiến thêm bước nữa rồi nói: “Ta là Trương Tiểu Kính, đô úy ti Tĩnh An. Đêm nay đến đây là vì có món đồ này muốn nhờ tiên sinh xem giúp.”

Sau khi nghe thấy ba chữ ti Tĩnh An, cuối cùng Triều Phân cũng quay lại, hờ hững hỏi: “Xem cái gì?”

“Đầu tre vụn.” Trương Tiểu Kính quơ quơ cái túi trên tay, nói.

“Không có hứng. Mời về!” Triều Phân dứt khoát từ chối.

(Cậu đồ đệ lại lí nhí giải thích tiếp: “Thầy tôi thế đó! Gần đây thầy si mê nung gốm sứ nên chẳng buồn ngó ngàng đến những thứ khác.”

Trương Tiểu Kính nói: “Việc này có liên quan đến an nguy của cả thành Trường An. Nước đến cổ rồi, mời xem qua. Đây không phải đề nghị, mà là mệnh lệnh.”

Không ngờ ngay cả khi lôi an nguy của thành Trường An ra mà Triều Phân vẫn cứ trơ trơ như không. Mắt ông ta cứ dán chặt vào cửa lò nung, tựa như trên đời không có gì quan trọng bằng món đồ đang được nung trong đó.

Nếu bình thường thì cái tâm người nghệ nhân ấy rất đáng được khen ngợi, nhưng trong lúc nước sôi lửa bỏng thế này thì không thể để ông ta thích làm gì thì làm như thế được. Trương Tiểu Kính vung tay định túm lấy lão, không ngờ Triều Phân khẽ hẩy một cái đã khiến tay y bật ngược trở lại. Trương Tiểu Kính vốn tự tin vào lực tay của mình, thế mà vừa đánh đã thua dưới tay Triều Phân.

Thì ra bao năm miệt mài tôi luyện tay nghề ở thành Trường An cũng đã luyện cho ông ta hai cánh tay rắn chắc như thép.

Y Tư thấy vậy, lòng nóng như lửa đốt: “Ti Tĩnh An bị tập kích, thương vong quá nửa. Ti thừa bị bắt, đại điện bị đốt, đây chính là manh mối duy nhất…”

Nghe tới đây, cần cổ rụt rịt của Triều Phân đột nhiên xoay phắt lại, đôi mắt hung dữ quắc lên: “Ngươi nói lại xem nào!”

“Ti Tĩnh An bị tập kích, thương vong quá nửa, ti thừa bị bắt…”

“Câu cuối cùng!”

“Đại điện bị đốt.”

Triều Phân bỗng lao đến, hai tay túm lấy cổ áo Y Tư, kẹp chặt như hai gọng kìm sắt khiến gã không nhúc nhích nổi. Triều Phân gằn từng chữ: “Đại điện bị đốt. Vậy sa bàn của ta thì sao?”

“Đương nhiên cũng cháy thành tro,” Trương Tiểu Kính nói. Y đã túm được điểm yếu của lão. Triều Phân chính là một gã điên cuồng, không hứng thú với bất cứ thứ gì ngoài những món đồ do chính mình làm ra, nên muốn khiến lão lung lay thì đương nhiên phải chọc vào điểm yếu nhất này.

Quả nhiên, Triều Phân vừa nghe tin sa bàn bị phá hủy thì lông mày lập tức xoắn tít lại, nhìn có vẻ còn đau thương hơn cả khi nghe tin thành Trường An gặp nguy. Lão khẽ gầm lên một tiếng, hai cánh tay cứng như thép buông Y Tư ra rồi đập cái thình lên mặt bàn gỗ bên cạnh, khiến tấm gỗ kêu răng rắc rồi vỡ làm hai mảnh.

“Sa bàn ấy là ta cho ti Tĩnh An mượn! Sau này ta còn định mang nó về Nhật Bản để kiến tạo một thành Trường An khác. Thế mà bị hủy rồi ư? Ai? Là ai đã ra tay làm việc ấy?”

Trương Tiểu Kính lập tức chớp lấy thời cơ. “Những mẩu đầu tre này chính là manh mối quan trọng để tóm được hung thủ.”

Bàn tay to lớn đầy vết chai sạm của Triều Phân liền vươn tới, hai mắt lão đỏ ngầu: “Đưa đây!”

Y Tư đưa túi vải qua. Triều Phân dốc hết đầu tre vụn ra, cẩn thận quan sát từng mẩu một. Cậu đệ tử thấy thế liền vội vàng cắt bấc nến để sáng hơn một chút. Ngón tay Triều Phân tuy thô ráp nhưng rất linh hoạt. Những mẩu đầu tre trôi chảy, mượt mà giữa những ngón tay lão, nhưng tuyệt nhiên không một mẩu nào rơi lọt xuống. Sau đó, lão lại lấy ra một miếng ngọc trong suốt, bóng loáng, nheo mắt quan sát hồi lâu.

“Những mẩu vụn này từ tay mười hai người thợ thủ công khác nhau. Lực tay của họ không giống nhau, vết cắt trên những mẩu tre này cũng có độ sâu không tương đồng.”

Y Tư nghe vậy thì không khỏi chép miệng. Gã luôn tự cho rằng đôi mắt của mình vô cùng tinh tường, nhưng xem ra vẫn chưa lợi hại bằng Triều Phân. Triều Phân lại nói tiếp: “Cách vót tre này không phải lối vót của Trường An mà hẳn là từ nơi nào đó ở phía bắc. Tre phía bắc vừa nhỏ vừa mỏng nên lực dao phải nhẹ. Hơn nữa, ở rìa của nhiều mảnh tre có hai vết cắt, là vì vót không đúng cách nên buộc phải làm thêm lần nữa. Đây hẳn là bởi người làm là thợ thủ công Sóc phương.”

Không hổ là một nghệ nhân có tiếng, chỉ cần nhìn qua mà lão đã có thể đọc vanh vách về những mẩu tre này. Nhưng Trương Tiểu Kính vẫn cảm thấy hơi thất vọng, bởi những thông tin này gần như không giúp gì nhiều cho việc tìm ra Khuyết Lặc Hoắc Đa.

“Vậy cái này thì sao?” Y đưa nốt mẩu tre Ngư Trường đánh rơi ra.

Triều Phân chỉ nhìn thoáng qua đã nói: “Bên ngoài bát giác, bên trong có rãnh. Ngươi nhìn này! Mẩu tre này dẹp mà nhỏ, còn có vết lửa đốt. Đây là phương pháp điển hình của Phương thị ở Lĩnh Nam, đồng thời còn tiếp thu cả cách xử lý tinh tế của Lâm thị ở Xuyên Trung…” Lão đã nghiên cứu kĩ càng đặc điểm tay nghề của thợ thủ công trên khắp Đại Đường, nên không khó để đọc ra mọi thông tin có thể từ những món đồ này.

“Thứ này có mối liên hệ gì với những mẩu đầu tre ban nãy không?”

“Ta chỉ có thể nói rằng chúng đều là những mẩu vụn còn sót lại sau khi được cắt gọt từ một thứ công cụ lớn nào đó.”

“Có thể nhìn ra người làm là ai không?” Trương Tiểu Kính cảm thấy việc này thật thú vị.

Triều Phân liếc nhìn y một cái. “Có cả ngàn vạn thợ thủ công ở Trường An. Hơn nữa ta cũng không phải thầy bói, làm sao mà nhìn ra được?” Trương Tiểu Kính nhất thời cứng họng, biết rằng yêu cầu vừa rồi của mình quả thực quá đáng. Nếu lão ta có thể chớp mắt nhìn thấu mọi thứ thì có khác nào thần tiên.

Triều Phân chậm rãi nói tiếp: “Nhưng mà ta quả thực có thể nói cho ngươi biết cái này để làm gì.”

Lão ta sai đồ đệ mang hai đoạn tre còn nguyên ra, đồng thời tiện tay với lấy một cây đao dài có hình dáng kỳ lạ rồi múa đao như gió. Trương Tiểu Kính và Y Tư phát hiện những mẩu tre rơi xuống đất có hình dạng giống với những mẩu tre vụn họ mang theo. Chẳng bao lâu sau, trong tay lão đã xuất hiện một ống tre có hình dáng kỳ lạ, với hai đầu được cắt thành hình răng cưa có thể nối khớp với ống còn lại, thậm chí còn có thể chuyển động.

Chỉ cần nhìn thấy vài mẩu tre vụn đầu thừa đuôi thẹo mà Triều Phân đã có thể suy luận ngược trở lại món đồ ban đầu. Quả là một bậc nhân tài đáng kinh ngạc!

“Thứ này có thể làm gì?”

“Đây là cánh tay kỳ lân. Nó có thể áp dụng trong xây nhà như nối dầm với cột, hay cả trong xe ngựa và rất nhiều công dụng khác. Theo ta biết, cả thành Trường An này chỉ có thiết kế của một người mới đòi hỏi mức độ tinh vi đến vậy.” Triều Phân phủi phủi ống tre, giọng nói có phần cảm khái: “Đó cũng chính là người duy nhất ta chưa vượt qua được.”

“Là ai?”

“Con trai Mao Bà La, Mao Thuận.”

Mao Bà La cũng là một bậc cao nhân thời Võ Chu, giỏi hội họa và khéo chế tác, từng đảm nhiệm chức Thượng phương thừa trong triều. Để lấy lòng Võ hậu, Lương vương Võ Tam Tư đã liên hợp với tộc trưởng các bộ tộc man di, cùng dâng tấu xin cho dựng một cột trụ bằng đồng ngay trước Đoan Môn. Cột đồng này do chính tay Mao Bà La đúc lấy.

Con trai Mao Bà La là Mao Thuận còn tài giỏi hơn cha và có địa vị rất cao trong giới nghệ nhân ở thành Trường An. Chỉ cần nghe lời khen ngợi của Triều Phân cũng có thể biết được người này xuất sắc thế nào.

Trương Tiểu Kính cũng từng nghe tới cái tên này. Trước đây, y cứ băn khoăn không hiểu Kiến Càng định làm gì với lượng mỡ đá mà ti Tĩnh An làm mất dấu. Giờ đây, nghe Triều Phân nói vậy, e rằng việc sử dụng mỡ đá không thể tách rời một trong những thiết kế của Mao Thuận. Vậy thì chỉ cần bắt được Mao Thuận, y sẽ vén được tấm màn về mưu đồ bí mật này. Y vội vàng hỏi tiếp: “Sư phụ cảm thấy cánh tay kỳ lân này sẽ được dùng trong thiết kế nào của Mao Thuận?”

Triều Phân nói: “Mao Thuận được trời cao chiếu cố, lại có tư chất nên rất được thánh nhân sủng ái. Tết Thượng Nguyên năm nay, ông ta đề xuất dựng một tòa lầu đèn khổng lồ Thái Thượng Huyền Nguyên dùng cho lễ bạt đăng. Tòa lầu đèn này cao hơn một trăm năm mươi thước, rộng hai mươi tư gian, bên ngoài giăng lụa màu rực rỡ, bên trong đặt giá đèn, kết cấu vô cùng phức tạp, một khi được thắp sáng thì có thể xoay không ngừng, tỏa sáng hàng dặm, tạo nên một cảnh tượng chưa từng có. Thánh nhân thích thú lắm, ân chuẩn cho ông ta chủ trì xây dựng, giờ chỉ đợi lên đèn nữa thôi.”

Triều Phân không hề che giấu niềm ngưỡng mộ trong lời nói. Cũng phải thôi! Thử hỏi có ai không muốn nhìn thấy tâm huyết của mình biến thành hiện thực đâu? Nhưng chính vì quá say sưa nên lão không để ý tới nét mặt khác lạ của Trương Tiểu Kính.

“Cánh tay kỳ lân được dùng trong tòa lầu đèn đó sao?” Trương Tiểu Kính run run hỏi.

“Đúng vậy! Tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên đó có hai mươi tư gian đèn với hai mươi tư bối cảnh sắp xếp giá đèn khác nhau. Muốn những giá đèn này có thể tự chuyển động thì không sử dụng cách nối bằng cánh tay kỳ lân không được.”

Trương Tiểu Kính lấy cánh tay kỳ lân từ tay Triều Phân, cẩn thận quan sát và nhận ra đó là một kết cấu rỗng ruột. Triều Phân giải thích:

“Tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên quá cao, dù là gỗ hay đá thì cũng đều quá nặng nên chỉ thích hợp dùng loại tre nứa rỗng bên trong để làm thôi.”

“Nhưng làm thế thì cánh tay kỳ lân chẳng phải cũng dễ hư hỏng ư?”

“Tre rất nhẹ, có thể thay thế bất cứ lúc nào. Hơn nữa, tòa lầu đèn cũng chỉ dùng trong ba ngày nên không phải vấn đề gì to tát lắm.”

Trương Tiểu Kính chợt bừng tỉnh. Dù không hiểu rõ lắm về mặt kỹ thuật nhưng y cũng có thể lờ mờ đoán được ý đồ của Kiến Càng. Đầu tiên, chúng dùng tre nứa để tạo thành những cánh tay kỳ lân, sau đó tiếp tục đồ đầy mỡ đá vào trong để tạo thành một quả mãnh hỏa lôi cỡ nhỏ. Đến lúc ấy, đám Kiến Càng sẽ giả dạng làm thợ thủ công rồi trà trộn vào lầu đèn, lấy cớ kiểm tra để đường đường chính chính thay cánh tay kỳ lân trước mắt bao người.

Bằng cách này, cả tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên sẽ biến thành một quả mãnh hỏa lôi khổng lồ. Một khi nó phát nổ, e rằng cả một vùng rộng lớn trong phạm vi vài dặm xung quanh sẽ không tránh khỏi thương vong.

“Tòa lầu đèn đó được dựng ở đâu?”

“Phía nam cung Hưng Khánh, quảng trường ngay trước Cần Chính Vụ Bản Lâu.”

Giờ Sửu đêm nay, hoàng đế sẽ tiến hành lễ bạt đăng tại Cần Chính Vụ Bản Lâu, cùng với sự tề tựu đông đủ của văn võ bá quan trong triều cũng như sứ thần các nước. Hơn nữa, Cần Chính Vụ Bản Lâu cũng chỉ cách tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên chừng ba mươi bước chân.

Dã tâm của Kiến Càng đã được phơi bày. Chúng thực sự định tung một mẻ lưới xóa sổ cả triều đình Đại Đường, để lễ bạt đăng biến thành thảm họa quốc tang.

Trương Tiểu Kính không khỏi chấn kinh. Nhưng rồi, y chợt nhớ ra rằng mãnh hỏa lôi có một đặc điểm, đó là phải làm nóng trước khi sử dụng nên không thể lắp sẵn lên lầu đèn. Nếu Kiến Càng muốn đạt được mục đích thì nhất định phải có mặt tại lầu đèn và thay thế cánh tay kỳ lân một canh giờ trước lúc bạt đăng. Giờ Sửu lên đèn, hiện đang là Sơ Tý, vậy là còn chưa tới một canh giờ rưỡi nữa.

E rằng đám Kiến Càng đó đang động tay động chân trong lầu đèn ngay lúc này!

Trương Tiểu Kính giật bắn người, không thèm nói thêm gì với Triều Phân, thậm chí không giải thích gì với Y Tư mà cứ thế lao thẳng về phía cửa. Đây là cơ hội cuối cùng. Nếu không nhanh chóng chạy tới đó thì e là không kịp nữa!

Nhưng đúng lúc y xông ra thì cánh cổng cũng bị đẩy sầm từ ngoài vào. Quân Lữ Bôn vừa ùn ùn ùa tới, vừa hét lớn: “Nằm sấp xuống thì không giết!” Đám đông binh lính lập tức bao vây sân viện, làm khoảng sân nhỏ càng thêm chật chội.

Cách đó không xa, Nguyên Tái đang đứng sau đám lính, đắc ý nhìn ‘Kiến Càng’ sắp bị lôi về xét xử.

----------------------------------------

Đêm nay Long Võ quân phụ trách nhiệm vụ cảnh giới cung Hưng Khánh. Đội cấm vệ quân được hoàng đế tin tưởng nhất này đã sớm dẹp sạch quảng trường phía trước Cần Chính Vụ Bản Lâu, bố trí lính gác khắp nơi và dựng cả rào chông nhằm đảm bảo an toàn ở mức tối đa.

Đây chính là những thời khắc căng thẳng nhất trong năm của Long Võ quân.

Chỉ một canh giờ nữa thôi, xe bạt đăng được lựa chọn từ khắp các địa phương cùng đám đông người ủng hộ sẽ ùa vào quảng trường này để tiến hành trận tỉ thí tài nghệ cuối cùng. Khi ấy, nơi đây sẽ toàn người là người, đám đông chật ních không những vây kín đường phố mà còn trèo lên cả tường phường. Càng rắc rối hơn khi hoàng đế sẽ đứng ngay trên tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu để đón nhận tiếng tung hô ‘vạn tuế’ của bách tính. Trong mắt người, làm như vậy có nghĩa là chung vui với con dân, cùng hưởng thái bình, nhưng với Long Võ quân thì đây lại là một tình huống ẩn tàng vô vàn nguy hiểm.

Đêm nay là một đêm quá đặc biệt. Long Võ quân không thể áp chế đám đông bằng trọng binh như thường lệ, mà chỉ có thể tập trung bảo vệ những người trọng yếu. Dưới tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu, ngoài các cổng Kim Minh, Sơ Dương, Thông Dương thì năm nay còn có thêm một tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên.

Thời Đường Cao Tông, Lão Tử được tôn là ‘Thái Thượng Huyền Nguyên’. Hoàng đế ngày nay chuộng Đạo giáo, đặc biệt tôn sùng Lão Tử nên khi xây dựng lầu đèn cũng gắn với bốn chữ này.

Lầu đèn uy nghi sừng sững, không lo bị trộm bê đi mất, nhưng lại sợ bách tính hiếu kỳ vây quanh tiện tay ngắt xuống món đồ trang trí quý giá nào đó. Chính vì vậy, Long Võ quân đã bố trí ba tầng canh phòng, không cho phép kẻ nào không có trúc tịch quan chức hoặc thợ thủ công bén mảng lại gần.

Hơn chục xe kéo chậm rãi tiến vào quảng trường từ phía đông. Giờ đây, toàn bộ giao thông trong thành gần như tê liệt, nên họ chỉ có thể đi vòng qua con đường giữa tường thành phía đông và các phường để đến được đây. Long Võ quân canh gác ở rìa quảng trường đã nhìn thấy họ từ xa, sau đó ra hiệu cho đám người dừng lại. Đoàn xe khựng bánh, người dẫn đầu chủ động bước ra nghênh đón, tự giới thiệu mình là thợ thủ công và giao ra một bó trúc tịch đã được buộc chặt.

“Thắp nến trên lầu đèn.” Hắn nói.

Lính gác đã được thông báo rằng sẽ có thợ thủ công lên lầu đèn thắp nến, nên không hề tỏ ra ngạc nhiên trước sự xuất hiện của bọn họ. Toán lính lập tức nhận lấy bó trúc tịch, cẩn thận xem xét từng cái một.

Trên trúc tịch ghi rõ họ tên, tướng mạo, quê quán, đồ đệ của ai, thuộc phường nào và phụ trách nhiệm vụ gì… mặt sau trúc tịch còn có quan phụ trách ký và đóng dấu. Sau khi nhận thấy không có vấn đề gì khác thường, đội trưởng của nhóm lính đặt bó trúc tịch xuống và chuyển sang quan sát đoàn xe, chợt cảm thấy có gì đó kỳ lạ.

“Chủ sự Trương đâu?”

Theo quy định, những công việc quan trọng như duy tu lầu đèn bắt buộc phải có quan lại bộ Ngu đi cùng. Tên thợ thủ công ban nãy bước tới gần, nhỏ giọng thưa: “Ôi! Ngài đừng nhắc đến nữa. Ban nãy Trương chủ sự đang ngắm đèn trên cầu thì bị người ta xô đẩy ngã cả xuống nước, đến giờ vẫn chưa vớt lên được. Chúng tôi sợ làm chậm trễ công việc nên mới phải tự đến đây trước.”

Người đội trưởng kia nghe vậy, không ngờ rằng chuyện như thế có thể xảy ra, không khỏi cảm thấy khó xử: “Để thợ thủ công vào làm việc thì bắt buộc phải có chủ sự bộ Ngu đi cùng.”

Tên thợ kia vội la lên: “Có phải tôi đẩy Trương chủ sự xuống nước đâu cơ chứ! Ngài ấy không đến thì tôi có thể làm gì được đây?”

“Quy tắc là quy tắc. Không thì bảo bộ Ngu cử người khác đến đây.” Đội trưởng đội lính canh đề nghị. Là một thành viên của Long Võ quân, gánh vác trên vai an nguy của thiên tử, hắn buộc phải đặt quy tắc lên hàng đầu.

“Ngoài kia ai cũng đang thưởng đèn ngắm hoa, bảo tôi tìm kiểu gì đây…” Tên thợ thủ công càng lo lắng, hai tay càng vặn vẹo dữ dội. “Chỉ còn một canh giờ nữa là đến giờ Sửu. Còn dây dưa thêm thì bọn ta không thể nào làm kịp được. Thánh nhân vẫn luôn mong chờ thời khắc tòa lầu đèn bừng sáng để cho thiên hạ bốn phương biết về thời thịnh thế. Nếu lầu đèn không sáng… thì là vì Long Võ quân không cho thợ thủ công chúng ta vào làm việc đấy?”

Nghe vậy, đội trưởng nhóm lính gác cũng bắt đầu do dự. Quy tắc có quan trọng đến mấy cũng không thể quan trọng bằng tâm tình hoàng đế. Hắn lại nhìn đoàn xe rồi nói: “Được thôi! Thợ thủ công có thể vào, nhưng xe này chở gì đấy?”

“Tất cả đều là đồ dùng để thay thế, dùng cho việc duy tu lầu đèn.” Tên thợ thủ công xốc tấm bạt lên, thoải mái cho binh lính kiểm tra. Người đội trưởng khoát tay một cái, lệnh cho mỗi thuộc hạ cẩn thận kiểm tra một xe. Trên xe quả nhiên đều là những ống tre với cách cắt ở hai đầu hơi kỳ lạ, rất giống với một số bộ phận trên lầu đèn, ngoài ra không còn đồ đạc nào khác nữa.

Tuy nhiên, những ống tre này đều rất nóng, giống như chỉ vừa mới được làm nóng cách đây không lâu. Binh lính không hiểu cách làm của thợ thủ công nên đoán rằng đây là một phương pháp bí mật nào đó. Hắn đặt ống tre xuống, hỏi tiếp: “Chỉ một canh giờ nữa là thắp nến mà vẫn còn phải duy tu nhiều thế sao?”

Trước câu hỏi này, tên thợ thủ công dứt khoát chỉ lên toa xe mà rằng: “Vấn đề này ngài có thể hỏi thẳng Mao giám.” Người đội trưởng ngẩng đầu lên nhìn, liền thấy một ông lão gầy gò với chòm râu dê, mặt không biểu cảm đang ngồi ở đầu xe, ngước nhìn lên tòa lầu đèn sừng sững. Đó chính là Thượng đăng giám – Mao Thuận.

Người đội trưởng nhất thời im bặt. Một người đáng kính, quan trọng như Mao Thuận đâu đến lượt một tên lính Long Võ quân cỏn con như hắn tra hỏi. Nghĩ vậy, hắn không còn nghi ngờ gì thêm nữa, lệnh cho thuộc hạ dỡ rào chông để đoàn xe từ từ tiến vào.

Đoàn xe thuận lợi vượt qua hai tầng canh gác tiếp theo như thế. Tuy đám thợ thủ công này không có Trương Lạc đứng ra bảo lãnh, không làm theo quy tắc, nhưng đích thân sư phụ Mao Thuận đi kèm là quá đủ để gạt bỏ mọi nghi ngờ. Đoàn xe cứ thế thẳng tiến đến chân tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên.

Tòa lầu đèn này quá cao nên phía dưới được chống đỡ bởi một huyền quan(*) [Sec-26.xhtml#n62] bằng gạch đá vững chãi, nén chặt đất vàng xung quanh làm bệ đỡ cho một bộ khung tre khổng lồ hình hồ lô. Lối vào lầu đèn cũng nằm ở huyền quan đó.

Đám thợ lũ lượt nhảy xuống xe, ai nấy ôm một bó cánh tay kỳ lân, men theo lối đi tiến vào lầu đèn. Ở đây cũng có Long Võ quân canh gác, nhưng sau khi nhận được thông báo từ những phòng tuyến phía trước, họ không những không gây khó dễ mà còn nhiệt tình giúp đỡ khiêng đồ.

Người cuối cùng xuống xe là Mao Thuận, động tác chậm rì rì, có vẻ không yên lòng. Tên thợ thủ công dẫn đầu ban nãy bước tới, thân thiết nắm lấy cánh tay ông. Mao Thuận liếc nhìn hắn ta một cái rồi khẽ nói: “Lão phu đã đưa các ngươi tới đây như đã hứa. Ngươi có thể thả người nhà ta ra được rồi chứ?”

“Mao giám nói gì thế?” Long Ba cười nói. “Việc duy tu lầu đèn còn phải trông cậy vào tài năng của ngài nữa chứ!”

----------------------------------------

Đàn Kỳ không ngờ mình sẽ gặp lại Thái Chân ở tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu này.

Nói đúng ra, nữ tử này quả thực là một nhân vật truyền kỳ trong những câu chuyện trên đường phố Trường An. Nàng ấy vốn tên là Dương Ngọc Hoàn, là phi tử của Thọ vương Lý Mạo. Đàn Kỳ gặp nàng trong một chuyến du xuân của các vương tử. Thọ vương phi vô tình ngã ngựa nên bị trẹo chân, Đàn Kỳ giỏi xoa bóp liền điều trị giúp nàng. Hai người chuyện trò tâm đầu ý hợp, Thọ vương phi lại không chê bai Đàn Kỳ xuất thân thấp hèn nên nhanh chóng trở thành bạn tốt của nhau.

Không ngờ, mấy năm sau, hoàng đế lại cho mời Dương Ngọc Hoàn vào cung, nói là cầu phúc cho Đậu thái hậu, lệnh cho nàng tu đạo với đạo danh là Thái Chân. Người ngoài chẳng thể biết nổi những chuyện khúc chiết quanh co sau màn trướng chốn hậu cung, nhưng dân gian vẫn rỉ tai nhau phong thanh câu chuyện suốt một thời.

Cũng đã mấy năm Đàn Kỳ chưa được gặp lại Thái Chân, không ngờ hôm nay hai người lại tương phùng trong buổi xuân yến này. Đàn Kỳ thấy nàng mặc áo đạo sĩ, liền hiểu rằng Thái Chân tuy hầu hạ sát sườn cạnh thiên tử, nhưng danh chưa chính, ngôn chưa thuận nên vẫn phải ăn vận thế này, đồng thời không tiện xuất hiện công khai trong yến tiệc. Dẫu sao, Thọ vương cũng đang ngồi dưới đó.

Nhìn thấy Đàn Kỳ, Thái Chân vừa kinh ngạc vừa không khỏi mừng rỡ. Nàng ở trong cung đã lâu, hiếm hoi lắm mới có cơ duyên gặp lại người cũ. Thái Chân nắm tay Đàn Kỳ, thân thiết hỏi: “Lâu lắm rồi không nhìn thấy muội. Gần đây muội vẫn khỏe chứ?” Đàn Kỳ khó khăn lắm mới hạ được quyết tâm hành sự, nhất thời lại gặp phải chuyện này nên không biết phản ứng thế nào cho phải.

Thái Chân lại cho rằng Đàn Kỳ xúc động quá không nói nên lời, liền kéo cô sang một bên rồi thủ thỉ tâm sự chuyện nhà. Đàn Kỳ lòng nóng như lửa đốt, miệng máy móc đáp lại cho có, còn mắt thì cứ dán chặt vào phía bên kia tấm rèm châu, nơi chiếc mũ thông thiên đang say sưa lắc lư theo điệu Nghê thường vũ y vũ.

Thái Chân không khỏi thắc mắc khi thấy Đàn Kỳ có vẻ thất thần. Nàng liếc nhìn qua chỗ ngồi bên dưới, thấy thái tử nhưng không thấy Lý Tất. Chẳng lẽ Lý Tất đã tặng cô hầu gái này cho thái tử rồi sao? Nhưng bộ dạng lôi thôi, lếch thếch của Đàn Kỳ lại không giống tham gia yến tiệc cho lắm.

“Sao muội muội lại ăn mặc thế này? Muội gặp phải chuyện gì sao?”

Đàn Kỳ nghe vậy, hai mắt chợt lóe lên.

Việc Thái Chân tu đạo cầu phúc thực ra chỉ là cách thiên tử che mắt thiên hạ, chứ ân sủng dành cho nàng chỉ có tăng chứ không có giảm. Đàn Kỳ còn nghe nói rằng người trong cung ai cũng gọi Thái Chân là nương tử, đã coi nàng giống như phi tần từ lâu. Nếu có thể nhờ nàng nói đỡ trước mặt thiên tử đôi lời, há chẳng phải tốt hơn bản thân liều mình đi tìm cái chết ư?

Bụng bảo dạ, Đàn Kỳ thình lình túm lấy tay áo Thái Chân, nước mắt lưng tròng: “Tỷ tỷ! Tỷ phải cứu muội!”

Thái Chân vội vàng đỡ cô dậy, ân cần nói: “Việc gì khiến muội hoảng hốt nhường này? Có thể nói tỷ nghe được chăng?” Tuy chỉ là một nữ đạo sĩ ẩn dật, nhưng giọng nói của nàng lại có phần khoan thai, đĩnh đạc, xoa dịu lòng người.

Đàn Kỳ nắm đôi bàn tay mềm mại kia, ngượng ngùng nói: “Muội đã tự định chung thân với một người, không ngờ chàng bị người ta ghen ghét, vu oan giá họa, rơi vào cảnh bị truy nã toàn thành. Muội bôn ba chạy vạy suốt đêm nhưng không một ai đưa tay giúp đỡ. Đến bước đường cùng, muội chỉ đành mạo hiểm tìm thái tử, nhưng thái tử cũng…” Nói xong, cô bật khóc nức nở.

Đàn Kỳ rất hiểu Thái Chân. Nàng là một người hồn nhiên, ngây thơ. Nếu nói chuyện về an nguy của thành Trường An, rằng toàn thành sắp bị hủy diệt thì nàng sẽ không hiểu. Nàng chỉ thích nghe những câu chuyện về tình yêu đôi lứa, như là Phượng cầu hoàng, Lạc thần phú, Lương Chúc, Hồng Phất dạ bôn… Nếu muốn Thái Chân sẵn lòng giúp đỡ thì Đàn Kỳ chỉ có thể bịa ra một câu chuyện tình yêu giữa mình và Trương Tiểu Kính.

Quả nhiên, Thái Chân nghe xong cũng cảm động rơm rớm nước mắt, cảm thấy câu chuyện vừa rồi thực đau lòng. Sau khi tự định chung thân, lang quân yêu dấu gặp nạn, liều mình cứu giúp, từng chút một đều chạm tới cảm xúc của nàng. Xưa kia, nàng là Thọ vương phi, nay lại hầu cận bên thiên tử, lúc nào cũng thân bất do kỷ nên luôn khao khát được là một phần của những câu chuyện như vậy.

Thái Chân ôm lấy cơ thể mềm nhũn của Đàn Kỳ, thấy cổ cô cũng dính đầy bụi bẩn. Có thể thấy với cô, đêm vừa rồi là một đêm mệt mỏi, đau đớn đến nhường nào.

“Yên tâm! Ta sẽ nói chuyện này với thánh nhân. Lang quân kia của muội tên gì?”

“Tên là Trương Tiểu Kính!” Đàn Kỳ đáp lời rồi vội vàng lắc đầu. “Giết gà há cần đến dao mổ trâu. Uy quyền thánh nhân đâu phải để dành cho những chuyện nhỏ nhặt này, chỉ sợ người sẽ xem thường tỷ tỷ.” Thái Chân thấy đối phương rơi vào bước đường này mà vẫn suy nghĩ cho mình thì không khỏi cảm động, nàng nhẹ nhàng an ủi: “Muội yên tâm! Ta vẫn thường xin ban thưởng cho gia quyến trong nhà, người chưa bao giờ không phê chuẩn. Có cái lệnh ân xá thì đáng gì!”

Đàn Kỳ nhỏ giọng nói: “Cầu xin bệ hạ ân xá sẽ dính dáng tới quá nhiều người trong triều. Muội không thể để tỷ tỷ bị liên lụy được. Nếu tỷ tỷ có lòng thì chỉ xin bệ hạ hỏi về Khuyết Lặc Hoắc Đa là được.”

“Đó là gì?” Thái Chân nghe không hiểu.

Đàn Kỳ cười khổ. “Đó là việc mà lang quân muội có liên quan, lại đang bị kẻ gian che giấu trước thánh nhân. Vậy nên chỉ cần bệ hạ để ý đến một chút thì chàng có thể thoát khỏi hoạn nạn.”

Thái Chân suy nghĩ một lát, cảm thấy việc này đơn giản hơn cầu xin ban thưởng rất nhiều, hơn nữa không để lộ dấu vết nên thoải mái đồng ý. Đàn Kỳ khuỵu xuống, đang định dập đầu cảm ơn thì lại được Thái Chân đỡ dậy. Nàng nói: “Ngoài cung, trừ mấy tỷ tỷ ra, ta chỉ có mình muội là chỗ quen biết. Không cần làm vậy!”

Thấy Đàn Kỳ ngân ngấn nước mắt, trong lòng Thái Chân bỗng trào dâng cảm giác như làm được chuyện gì đó vĩ đại vô cùng. Một lời nói giúp tác thành mối lương duyên chính là tâm nguyện nàng ấp ủ trong lòng bấy lâu. Nàng an ủi Đàn Kỳ thêm vài câu rồi vén rèm châu, đi đến bên cạnh hoàng đế.

Đàn Kỳ đứng nguyên tại chỗ, trong lòng lo lắng không yên.

Cô đã suy nghĩ rất kĩ, không thể bẩm tấu chuyện rửa oan cho Trương Tiểu Kính hay trả lại ti Tĩnh An cho Đông cung trước mặt thiên tử được. Đó đều là những chuyện cỏn con trong mắt người. Muốn kinh động hoàng đế thì bắt buộc phải dùng đến một cây kim độc sắc nhọn, là cây kim đâm một phát liền có thể khiến con người ta đau điếng.

Cây kim độc này chính là Khuyết Lặc Hoắc Đa, là thứ sẽ hủy diệt cả thành Trường An.

Hiện tại, thái tử muốn nhẫn nhịn, Lý tướng muốn tranh giành, hai bên đều vừa vô tình, vừa cố ý phớt lờ mối đe dọa của Khuyết Lặc Hoắc Đa. Những gì Đàn Kỳ có thể làm chính là vén màn vụ án này lên, càng làm lớn chuyện càng tốt. Chỉ cần hoàng đế có lời thì tất cả mọi việc sẽ được công khai từ đầu đến cuối.

Đàn Kỳ không biết một cục diện rối ren có ích gì cho Trương Tiểu Kính hay không, nhưng cô biết chắc rằng mọi chuyện không thể tồi tệ hơn hiện tại được. Chỉ có điều sau chuyện này, cô chắc chắn sẽ đắc tội cả thái tử và Lý tướng, e rằng chính mình sẽ rơi vào một vòng xoáy bi thảm.

Nhưng giờ đây cô không quan tâm đến những chuyện đó nữa, đôi mắt cô tập trung dõi theo mọi động thái bên kia tấm rèm châu. Chiếc mũ đạo sĩ của Thái Chân dần tiến lại gần chiếc mũ thông thiên, sau đó chợt nghiêng sang một bên như đang ghé tai rì rầm điều gì đó. Không lâu sau, Đàn Kỳ thấy hai tiểu thái giám vội vã chạy vào trong rèm, rồi lại tất tả chạy ra ngoài yến tiệc. Thái tử và Lý tướng đồng thời đứng dậy, rời khỏi chỗ ngồi và bước đến trước ngự án. Chiếc mũ viễn du và mũ ô sa đồng loạt cúi xuống như đang hành lễ nhưng rất lâu sau vẫn không thấy ngẩng lên, chỉ thấy mũ thông thiên không ngừng lay động giống như đang giáo huấn điều gì.

Tiếng chuông khánh và nhạc trống vẫn réo rắt trong yến tiệc. Đàn Kỳ không nghe rõ nội dung cuộc nói chuyện trước ngự án. Cô lặng lẽ dựa lưng vào bức vách mây, căng thẳng chờ đợi như một con bạc đánh cược cả gia sản đang hồi hộp mong mỏi đến thời khắc mở bát.

Cuối cùng, chiếc mũ viễn du và mũ ô sa kia cũng đồng thời ngẩng lên, chỉ thấy một chiếc mũ có vẻ bị kích động hơn. Đàn Kỳ không rõ tình hình hiện tại là dữ hay lành. Cô nuốt nước bọt, chưa đợi Thái Chân quay ra đã lặng lẽ lui về phía sau chỗ ngồi của thái tử.

Lý Hanh tái mặt quay lại. Nhìn thấy Đàn Kỳ, ánh mắt cậu chợt sáng lên: “Là ngươi nói cho Thái Chân kia hả?”

“Vâng!” Đàn Kỳ ưỡn ngực trả lời.

“Ngươi…” Lý Hanh run run chỉ tay vào mặt cô, tức không nói lời nào hẳn hoi. “Tiện tì ăn cây táo, rào cây sung nhà ngươi! Vì một kẻ tử tù mà sẵn sàng bán đứng mọi thứ!”

Ban này, phụ hoàng hỏi chuyện về Khuyết Lặc Hoắc Đa, cả cậu và Lý tướng đều không thể giấu giếm. Lý tướng chớp thời cơ chỉ trích Lý Tất gửi gắm sai người, bổ nhiệm một kẻ tử tù khiến ti Tĩnh An thảm bại. Lý Hanh không có lựa chọn nào khác, chỉ đành cứng cổ tranh cãi với lão. Lý tướng nói ti Tĩnh An kém cỏi để bị tập kích, còn cậu thì chỉ trích Ngự sử đài cướp quyền. Lý tướng nói Trương Tiểu Kính thông đồng với Kiến Càng, cậu lại nêu ra hành động anh hùng của y ở chợ Tây để bác bỏ lời vu khống.

Cả hai bị một tì nữ nhỏ nhoi kéo vào trận chiến không chuẩn bị trước nên gần như chỉ là đấu võ mồm. Cuối cùng, hoàng đế mất kiên nhẫn. “Đại địch còn chưa lui, sao vẫn còn ba hoa!” Người không quan tâm Trương Tiểu Kính kia là ai, nhưng một Khuyết Lặc Hoắc Đa định hủy diệt cả Trường An thì khác. Lý Hanh và Lý Lâm Phủ chỉ đành dập đầu nhận tội, chấp nhận gác bỏ hiềm khích trong quá khứ để chung tay hiệp lực bảo vệ an nguy cho thành Trường An.

Đàn Kỳ tuy không hiểu rõ nội tình, nhưng khi nghe thấy mấy chữ ‘vì một kẻ tử tù’ liền hiểu rằng ti Tĩnh An tạm thời sẽ không ép Trương Tiểu Kính vào đường chết nữa. Đến nước này, cô cũng lười giải thích thêm với Lý Hanh, chỉ khẽ dựa người vào bức tường sau lưng, mệt mỏi nhắm mắt lại. Cô chợt nghe thấy tiếng bước chân dồn dập, rồi ai đó hung hăng túm chặt lấy vai cô, lôi thẳng ra ngoài.

Chuyện sau này chỉ đành trông chờ vào bản thân gã dâm tặc kia thôi…

----------------------------------------

Quân lính ùa vào trong sân nhà Triều Phân. Y Tư nhanh nhẹn phản ứng lại đầu tiên. Gã không nhiều lời, lập tức nhảy tót lên mái tranh, túm cỏ khô ra rồi ném ào ào xuống nhằm cản tầm nhìn của đám lính.

“Trương đô úy! Chạy mau!”

Trương Tiểu Kính biết rằng tình huống hiện tại không cho phép y chậm trễ thêm nữa. Y chau mày, xoay người chạy về hướng ngược lại. Nhưng ngay lập tức, y nhìn thấy trên mái tranh phía đối diện đã có hơn chục cung thủ đang giương cung đợi sẵn. Nếu muốn vượt tường chạy thoát thì sẽ trở thành bia ngắm sống của những tay thiện xạ đó.

Y ngẩng phắt đầu lên gọi Y Tư mau xuống. Trong lúc đó, Y Tư đang mải miết ném rơm trên mái nhà nên không nghe thấy. Bỗng nhiên tiếng cung tên xé gió lao đi trong bóng tối, thân thể Y Tư bỗng cứng đờ, cắm đầu ngã dúi dụi xuống đất.

“Y Tư!”

Trương Tiểu Kính gào lên, định xông tới đỡ lấy gã nhưng đội quân Lữ Bôn đã ùa tới chặn đứng giữa hai người. Nguyên Tái cũng bước vào với sự yểm trợ của đám hộ vệ vây quanh. Nhìn gã Ba Tư ngã gục dưới đất, hắn đắc thắng hét lên: “Ti Tĩnh An đây! Các ngươi đã đến đường cùng rồi, còn không mau bó tay chịu trói!”

Để lời đe dọa thêm đáng sợ, hắn đích thân cầm thanh đao đâm thẳng vào bắp đùi bị thương của Y Tư, khiến gã đau đớn hét lên thảm thiết.

Điều kỳ lạ là lần này Trương Tiểu Kính không có bất kì phản ứng nào.

Nguyên Tái thấy y bình tĩnh khác thường thì không khỏi cảm thấy kỳ lạ. Hắn đánh mắt nhìn quanh rồi mới yên tâm phần nào. Sân viện này chỉ có một cánh cổng duy nhất, rất đông binh lính lăm lăm cầm đao cẩn thận áp sát. Bên ngoài còn có cung thủ và nỏ thủ bao vây, kiểm soát tất cả các điểm cao. Thiên la địa võng như vậy thì Kiến Càng có cánh cũng không tài nào thoát nổi.

Chợt nhớ ra việc bản thân vừa mới bị Văn Nhiễm uy hiếp, hắn vô thức lùi về sau mấy bước, lẩn mình vào giữa đoàn quân để đảm bảo không xảy ra bất cứ sơ sót nào nữa.

“Thắp đèn lên!” Nguyên Tái cảm thấy một thời khắc tuyệt đẹp thế này nên sáng sủa hơn một chút.

Một vài binh lính xách đèn lồng treo lên hành lang, cả sân viện liền tức thì bừng sáng. Nguyên Tái nghiêng đầu chăm chú quan sát. Cuối cùng hắn ta mới có cơ hội nhìn thật kĩ người đàn ông trước mặt. Hình như y chỉ có một mắt, hốc mắt bên trái chỉ còn là một lỗ đen sâu hoắm.

“Trương Tiểu Kính?” Nguyên Tái vừa mừng vừa sợ. Hắn vốn tưởng rằng hai kẻ này chỉ là dư đảng bang Kiến Càng, không ngờ lại là một con cá lớn. Xem ra đại công hôm nay đã định sẵn sẽ thuộc về một mình hắn rồi!

Nguyên Tái hơi nghiêng người về phía trước, lạnh lùng quát lớn: “Trương Tiểu Kính! Ngươi tội ác tày trời, có chết trăm ngàn lần cũng không đáng! Hôm nay bản quan đến đây, ngươi còn không biết đường tự sát tạ tội đi?” Thấy Trương Tiểu Kính vẫn không mảy may phản ứng như cũ, hắn lại quát tiếp: “Đồng đảng Diêu Nhữ Năng, Từ Tân, Văn Nhiễm… của ngươi đều đã bị bắt rồi. Chỉ chờ cái đầu của ngươi nữa thôi!”

Nguyên Tái hoàn toàn không muốn Trương Tiểu Kính đầu hàng. Dù là bắt cóc Vương Uẩn Tú hay tập kích ti Tĩnh An, hai tội lớn này chỉ có đổ lên đầu người chết mới an toàn nhất. Chính vì vậy, hắn đang cố tình chọc tức Trương Tiểu Kính, chỉ cần đối phương phản kích thì sẽ bị giết chết ngay tại trận.

Bờ vai Trương Tiểu Kính bắt đầu run lên. Tên đồ đệ của Triều Phân tưởng y sợ hãi, nhưng nhìn kĩ lại mới phát hiện y đang bật cười. Khóe miệng y nhếch lên thành một điệu cười hung ác mà đầy cay đắng. Hai hàng lông mày nhướng cao lên hai bên như thể đang lắng nghe chuyện gì đó cực kì thú vị.

Trương Tiểu Kính tiện tay vớ lấy cây đao mà Triều Phân vừa dùng để chẻ tre, cầm ang áng trên tay rồi xé toạc một dải vải từ tay áo, cuốn quanh chuôi đao. Sau đó, y xoay người đối mặt trực diện với đám người truy đuổi.

Nguyên Tái thấy y cầm đao thì vui như mở cờ trong bụng, ngoài miệng ra vẻ cả giận quát: “Chết đến nơi rồi mà vẫn còn cứng đầu à? Người đâu! Bắt hắn cho ta!”

Nghe thấy mệnh lệnh, quân lính nhất tề xông lên, hòng bắt cho bằng được ‘đầu sỏ Kiến Càng’. Không ngờ, cây đao trong tay Trương Tiểu Kính vừa lóe lên, tên lính đầu tiên đã ngã gục xuống đất, người một nơi đầu một nẻo, máu tươi phun ra như mưa. Binh lính theo sau sợ hãi chùn bước lại, chúng quay sang nhìn nhau rồi tiếp tục đồng loạt xông lên. Cây đao lại lóe lên hai đường sáng, lập tức có hai người nữa ngã xuống.

Đám lính phía sau chưa kịp phản ứng thì Trương Tiểu Kính đã lao vào giữa cả đám và bắt đầu trận phản kích. Y không nói lời nào, chỉ để đao kiếm lên tiếng bằng những luồng sáng liên tiếp. Cây đao trong tay Trương Tiểu Kính như lưỡi hái tử thần, mỗi lần vung lên sẽ cướp đi mạng sống của một người. Nhất thời, máu tươi như mưa, tiếng kêu gào thảm thiết vang vọng khắp nơi.

Tên đồ đệ của Triều Phân sợ hãi run lẩy bẩy, ôm đầu ngồi khuỵu xuống, trong khi Triều Phân vẫn thản nhiên ngồi bên lò nung, nhìn ngọn lửa nhảy múa như không thấy một trận gió tanh mưa máu này.

Nguyên Tái không khỏi rùng mình. Trực giác mách bảo hắn rằng có gì đó không ổn. Chân hắn vô thức lùi lại phía sau nhưng miệng vẫn gào thét lệnh cho binh lính tiến về phía trước.

Thế tiến công của Trương Tiểu Kính vẫn như chẻ tre, còn quân Lữ Bôn lại chưa từng phải chiến đấu với một kẻ địch điên cuồng như vậy bao giờ. Với sát khí ngút trời và đôi mắt đỏ ngầu như máu, y giống hệt một con mãnh thú trong bóng tối, sẵn sàng giết chết bất cứ kẻ nào đến gần. Sân viện này khá nhỏ, lại ngổn ngang đồ vật nên quân Lữ Bôn không thể tập hợp lực lượng để triển khai các thế trận khác nhau. Đám lính chỉ có thể vô lực chống trả sức tấn công như vũ bão khi một người đấu lại cả một đội trong cơn kinh hoàng bạt vía.

Nếu có Phong Đại Luân ở đây, hắn ta nhất định sẽ đưa ra lời cảnh báo trước khi trận chiến này diễn ra. Năm ngoái, khi Trương Tiểu Kính xông vào hang ổ của bang Hùng Hỏa hòng trả thù, y cũng đã giết chết hơn ba mươi người của bang. Cũng trong một cơn giận điên cuồng như thế, ngay cả tên phó thủ lĩnh và mấy hộ pháp cũng chết thảm dưới đao của y.

Lúc này, Trương Tiểu Kính quả thực đã phát điên.

Trước đó, dù rơi vào hoàn cảnh nguy hiểm thế nào, y vẫn luôn hạ thủ lưu tình, không muốn lấy mạng người khác. Nhưng việc Y Tư bị trúng tên cùng với những lời nói công kích liên tiếp của Nguyên Tái đã khiến cho những bức xúc y vốn luôn dồn nén chợt bùng nổ.

Đồng đội lần lượt ngã xuống, kẻ địch thì cứ từng bước, từng bước áp sát, đám quan lại vừa ngu dốt vừa tham lam, lời dặn dò cuối cùng của bạn cũ trước lúc lâm chung, hàng triệu sinh mạng của bách tích thành Trường An… Hết áp lực này đến áp lực khác cứ lần lượt dồn nén lại, tích tụ thành một thứ sức mạnh điên cuồng, biến Trương Tiểu Kính thành một hung thần đáng sợ. Giờ đây, y không còn e ngại bất cứ điều gì, sẵn sàng gặp ma giết ma, gặp thần giết thần, huống chi là đám lính Lữ Bôn yếu ớt này.

Điều đáng sợ hơn là Trương Tiểu Kính trong cơn điên cuồng không hề khua bừa mà xuống tay vô cùng lạnh lùng, tàn nhẫn, như một tảng đá vô tri. Y không một động tác thừa, không hé răng nửa lời, không e dè, không thương hại, thậm chí còn không có cả ý nghĩ bảo vệ bản thân. Y không tránh, không né, vô hồn như một con rồi không máu thịt. Ý nghĩ duy nhất còn sót lại trong đầu y chính là giết chóc, mỗi một lần xuống dao đều trí mạng.

Trong con mắt độc nhất của Trương Tiểu Kính, khung cảnh bi thảm trước mặt, khung cảnh kinh hoàng ở bang Hùng Hỏa và khung cảnh tang thương như chốn địa ngục khi thủ thành ở Tây Vực năm xưa như chồng lên nhau. Trong cơn cuồng sát, Trương Tiểu Kính rơi vào ảo giác, cho rằng mình vẫn ở thành lũy Tây Vực thuở nào, vẫn đang chiến đấu một trận đẫm máu với quân Đột Quyết.

Một con quái vật trầm lặng như vậy đứng giữa vòng vây, biến trầm mặc thành nỗi sợ hãi kinh hoàng. Giữa những tiếng kêu gào thảm thiết, gần như mạng người nào cũng bị tước đoạt chỉ bởi một dao.

Cũng có những tên lính dũng cảm muốn ngăn y lại nhưng họ nhanh chóng nhận ra rằng điều đó là gần như không thể. Cây đao kỳ lạ trong tay Trương Tiểu Kính sắc như nước và cực kỳ bền. Lưỡi đao chém biết bao người mà vẫn không hề sứt mẻ hay cong vênh.

Một người một đao đánh cho quân Lữ Bôn thương vong la liệt, khiến chúng nhanh chóng rút lui khỏi sân viện. Một Ngũ Tôn Diêm La tàn nhẫn, độc ác, cay nghiệt, ngoan cố và nham hiểm, tiếng tăm lừng lẫy khắp một trăm linh tám phường. Giờ đây, thành Trường An lại chứng kiến một khía cạnh điên cuồng khác của y, từ Ngũ Tôn Diêm La thành Lục Tôn Diêm La.

Hơn chục chiếc đèn lồng vẫn treo cao trên hành lang, ánh nến dao động trong gió, phản chiếu bóng đen cầm đao hung ác mà cô độc lên vũng máu lênh láng trên mặt đất.

Nguyên Tái nhanh chân chạy trối chết khỏi sân viện. Tim hắn như nhảy ra khỏi lồng ngực, đũng quần nóng hôi hổi và ướt sũng, sợ đến mức vãi cả ra quần. Cảnh sát thần điên cuồng giết chóc vừa rồi đã đập tan tành dũng khí của hắn.

Giờ đây, Nguyên Tái đã hiểu tại sao cả Vĩnh vương và Phong Đại Luân lại kiêng dè kẻ này đến vậy. Y không phải một thứ dịch bệnh đáng ghê tởm, mà là hiểm họa khôn lường!

Chỉ chừng bảy, tám người kịp rút lui khỏi sân viện cùng Nguyên Tái, may là bên ngoài vẫn còn khoảng chục quân tiếp viện lúc này cũng đang hớt hải chạy tới. Nhưng vừa nhìn thấy khung cảnh chết chóc phía này, cả đám vô thức phát run.

“Các ngươi mau xông lên đi!” Nguyên Tái thúc giục đám lính bên cạnh, chợt nhận ra cổ họng mình khô khốc, nói không ra hơi. Quân Lữ Bôn siết chặt vũ khí nhưng vẻ mặt ai nấy đều khiếp đảm, cắt không còn một giọt máu, đứng chết trân tại chỗ. Giống như Nguyên Tái, cả dũng khí và sĩ khí chiến đấu của chúng đều đã bị trận đánh vừa rồi thổi bay sạch sẽ.

Trương Tiểu Kính bước từng bước ra khỏi sân viện, cả người như toát ra tử khí chết chóc, lẫm liệt.

Khí thế áp đảo và đáng sợ ấy ép đám lính phải lần lượt lùi bước. Nguyên Tái đứng sau kinh hãi hét lên: “Dùng cung! Dùng nỏ!” Lúc này, hắn không nghĩ được gì khác, chỉ mong nhanh chóng thoát khỏi cơn ác mộng. Cơ thể hắn cứ cứng đờ lại, không nhúc nhích nổi.

Quân Lữ Bôn nghe vậy chợt như bừng tỉnh, những người đứng sau vội vàng rút cây nỏ cầm tay ra. Gã kia có lợi hại đến mấy thì cũng chỉ là một cơ thể bằng xương bằng thịt, không thể nào đấu lại nổi cung nỏ này.

Đúng lúc Trương Tiểu Kính đang định bước chân ra khỏi sân viện còn binh lính bên kia vội vã phóng tên, hai cánh cổng gỗ như được một bàn tay vô hình tóm lấy, thình lình đóng sầm lại một tiếng. Phập, phập, phập, phập., cơn mưa tên nỏ cắm hết lên tấm gỗ. Ngay sau đó, chỉ nghe thấy cạch một tiếng, dường như thanh ngang chặn cửa đã được cài chặt.

Nguyên Tái nhăn mặt. Nếu không tận mắt nhìn thấy Trương Tiểu Kính chết thì có lẽ suốt đời này, đêm nào hắn cũng gặp phải cơn ác mộng ấy.

“Mau! Mau phá cửa!” Nguyên Tái rít lên, mặc kệ mùi nước tiểu đang bốc lên nồng nặc. Tuy nhiên, không tên lính nào đáp lại mệnh lệnh của hắn, như thể đó là cánh cổng dẫn tới địa ngục.

Bên trong cổng, Trương Tiểu Kính cũng dừng bước. Bản thân y cũng không hiểu tại sao hai cánh cổng này đột nhiên đóng lại như thế. Con mắt trống rỗng ngước lên, phát hiện phía sau mỗi cánh cửa đều có cơ quan với một chuỗi dây thừng và ống tre dẫn thẳng vào trong sân.

Y lúc này nào có hứng thú tìm hiểu, thứ duy nhất y muốn chính là giết chóc. Y từ từ giơ tay lên, chuẩn bị chém về phía thanh ngang chặn giữa hai cánh cửa. Đúng lúc này, một bàn tay to đầy vết chai sạn đột nhiên túm lấy bàn tay cầm đao của y.

“Được lắm! Ngươi được lắm!” Lực tay Triều Phân mạnh đến nỗi lão ta có thể thoải mái tước lấy cây đao từ tay Trương Tiểu Kính.

Khoảnh khắc cây đao rời khỏi tay, ánh mắt y dần trở lại sáng rõ. Y liếc nhìn khoảng sân la liệt xác chết, lông mày nhíu chặt lại, không tỏ ra tự hào chút nào.

“Ngươi có biết thứ đẹp đẽ nhất trên đời này là gì không?” Giọng Triều Phân khác hẳn giọng điệu lạnh lùng, xa cách ban nãy. “Đó là khi một thứ chạm tới điểm cực hạn, thuần khiết nhất, triệt để nhất. Ta đi từ Nhật Bản đến Đại Đường học nghệ chính là vì hy vọng có thể nhìn thấy vẻ đẹp ấy.”

Lão cầm cây đao nằm ngang, dùng ngón cái lau vết máu trên lưỡi đao, khiến nó sáng bóng trở lại.

“Ta đã đi rất nhiều nơi, thử nghiệm rất nhiều điều, nhưng vẫn còn thiếu một chút để chạm tới cái đẹp. Tuy nhiên, vừa rồi, ta đã nhìn thấy cảnh giới mà ta hằng kiếm tìm ở chính ngươi. Cảnh giết chóc ấy mới đẹp làm sao! Không lẫn chút tạp chất nào, thuần khiết đến cực điểm.” Triều Phân nói, hai mắt sáng ngời.

Cậu đồ đệ bên cạnh tỏ vẻ không tin nổi, nhà cửa tanh bành đến độ này mà sư phụ vẫn cảm thấy đẹp sao? Cậu ta thận trọng đứng dậy rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Triều Phân chẳng buồn ngăn cản, khinh thường nói: “Đám người này chỉ biết sử dụng vũ khí và thủ đoạn mà cuối cùng vẫn không thể ngộ ra đạo lý.”

Trương Tiểu Kính lặng im không nói. Y vẫn chưa thể hoàn toàn bình tĩnh trở lại sau cơn cuồng nộ vừa rồi.

Triều Phân đưa lại cây đao cho y. “Ta từ bỏ việc đúc kiếm đã lâu. Đây là thanh đao cuối cùng do chính tay ta rèn ra. Vốn tưởng rằng nó không thể đáp ứng yêu cầu của ta về cái đẹp, nhưng giờ đây, xem ra nó chỉ là chưa được gửi gắm cho đúng người. Ta như đang nghe thấy nó run lên vì vui sướng, bởi lẽ ngươi mới là người nó vẫn luôn chờ đợi. Cầm lấy đi!”

Không ngờ Trương Tiểu Kính lại đẩy cây đao ra, cay đắng nói: “Đời ta buộc phải giết người, nhưng chưa từng nghĩ giết người là một việc vui vẻ. Ngược lại, mỗi lần ra tay đều khiến ta cảm thấy mệt mỏi và đau thương. Với ông, có lẽ ông có thể cảm nhận được cái đẹp trong việc này, nhưng với ta, giết chóc chỉ là một cực hình đau đớn bất đắc dĩ phải làm mà thôi.”

“Giết chóc cũng được, đau khổ cũng xong, chỉ cần đạt tới cảnh giới cao nhất thì chính là cái đẹp.” Triều Phân hưng phấn giải thích. “Đáng tiếc là không thể xuống địa ngục trong đời, đó mới là nơi ta hằng mơ ước.” Nói đoạn, lão lại đưa cây đao ra.

“Ngươi thì sắp nhìn thấy rồi.”

Trương Tiểu Kính không đón lấy cây đao mà quay lại nhìn Y Tư đang nằm trong vũng máu. Gã bị trúng hai mũi tên, may là không vào yếu điểm nào, chỉ có điều gân chân đều đã đứt, từ nay về sau đi lại cũng khó khăn chứ đừng nói đến việc chạy nhảy.

“Đô úy! Tại hạ sức lực có hạn, chẳng thể hữu dụng…” Y Tư gắng gượng nói, một vệt máu đỏ tươi chảy ra từ khóe miệng. Đôi mắt gã, đôi mắt của một hậu duệ vương tộc Ba Tư, vẫn dịu dàng và rạng ngời như thế.

“Ta sẽ thông báo cho người ở đến thờ Ba Tư đến đón ngươi về.” Trương Tiểu Kính chỉ có thể an ủi gã như vậy.

“… Là đền thờ Cảnh giáo.” Y Tư khẽ sửa lại lời Trương Tiểu Kính. Gã chẳng còn mấy sức lực, chỉ có thể lưu luyến nhìn y đầy vẻ đáng thương. Lần này Trương Tiểu Kính hiểu ý gã, y lấy cây thánh giá trên cổ gã ra, đặt lên môi gã. Y Tư hài lòng thở phào một hơi rồi lầm rầm cầu nguyện cho Trương Tiểu Kính.

Đây là điều duy nhất gã có thể làm lúc này.

Trương Tiểu Kính không nói thêm lời nào nữa. Y đứng dậy, quay sang nói với Triều Phân: “Phiền ông gọi thầy thuốc đến đưa hắn đi chữa trị.”

“Ngươi đi đâu đấy?”

“Lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên.” Giọng Trương Tiểu Kính nghe còn sắc bén hơn cây đao của Triều Phân.

“Nhưng ngoài cửa vẫn còn rất nhiều binh lính đang đợi ngươi.”

“Hoặc là ta thuận lợi rời khỏi đây, hoặc là chết luôn tại chỗ. Nếu là vế sau thì ta càng thoải mái hơn.”

Triều Phân cất cây đao đi. “Nếu ngươi đã không lấy đao thì để ta nói cho ngươi chuyện này đi!”

----------------------------------------

Toán quân Lữ Bôn đi sau lục đục chạy đến phường Thực Nghiệp, giúp quân số tăng lên hơn ba mươi người. Nhưng Nguyên Tái vẫn cảm thấy chưa an toàn, phải cần ít nhất hai trăm người mới có thể chắc chắn giết được Trương Tiểu Kính.

Cấp trên rụt rè như vậy nên cấp dưới càng không muốn xông pha. Chúng vây kín quanh nhà Triều Phân nhưng không một ai dám tiến vào. Đêm nay, sát thần với cây đao sắc bén sau cánh cửa kia đã uống máu bao người, không ai biết được y còn khát máu tới nhường nào nữa.

Bọn chúng đã tra ra chủ nhân của căn nhà này, đó là một thợ thủ công tên Triều Phân. Gia chủ của ông ta lại là một người Nhật Bản – Vệ úy thiếu khanh Triều Hoành – một vị đại thần cấp tòng tứ phẩm thượng. Hành động thiếu suy nghĩ trong trường hợp này là không được. Chính vì vậy, Nguyên Tái liền thay đổi kế hoạch, biến cuộc tấn công thành phong tỏa, không chủ động công kích kẻ địch nữa.

Nhà này không có lối đi bí mật, Trương Tiểu Kính muốn đi ra thì chỉ có thể dùng cửa chính. Một khi đặt chân ra khỏi cánh cổng, y sẽ lập tức trở thành một tấm bia sống. Hàng chục cây nỏ và trường cung đều đang chực sẵn ở đây.

Mồ hôi túa ra như mưa trên trán Nguyên Tái, khiến hắn lau không kịp. Tay hắn vẫn còn hơi run, không hiểu sao đối phương chỉ có một người nhưng lại gây ra một áp lực khổng lồ như vậy. Lại nghĩ đến cái háng vẫn còn ấm nóng, hắn vừa thấy nhục nhã ê chề, vừa ngập tràn căm phẫn.

Nhất định phải giết chết y! Nhất định phải giết chết y!

Nhưng đúng lúc này, một người đưa tin vội vàng mang tới một phong thư, nói rằng đó là giấy tờ mức tam vũ từ Trung Thư Tỉnh. Vừa nghe tin phong thư đến từ Phượng Các, Nguyên Tái liền không khỏi cảm thấy kỳ lạ. Mở phong thư ra xem, hắn càng lấy làm ngạc nhiên.

Phong thư này không ghi người nhận, nhưng được phát tới tất cả các trạm gác trên phố. Người đưa tin chạy ngang qua đây, thấy một lượng lớn quân Lữ Bôn đang tập hợp, mà vừa hay cũng cần báo tin cho toán quân này nên mới gửi thư trước. Nội dung trong văn bản rất đơn giản: tạm hoãn lệnh truy nã toàn thành với Trương Tiểu Kính, tất cả lực lượng tập trung truy bắt Kiến Càng. Hơn nữa, ở phần lạc khoản, ngoài Lý Lâm Phủ còn thấy cả xác nhận của Lý Hanh.

Hai thế lực này bắt tay với nhau từ khi nào vậy?

Nguyên Tái không quan tâm việc Trương Tiểu Kính có thực sự cấu kết với Kiến Càng hay không, nhưng mọi kế hoạch của hắn đều dựa trên cơ sở ‘Trương Tiểu Kính là nội gián của Kiến Càng’. Một khi nền móng này lung lay thì cả kế hoạch lớn của hắn có nguy cơ sụp đổ hoàn toàn.

Tình huống hiện tại cũng vẫn còn tạm ổn. Lệnh truy nã chỉ bị tạm hoãn chứ chưa bị hủy. Nhưng bánh xe may mắn dường như đang đi theo hướng xấu. Cảm giác này thực sự tồi tệ!

Đúng lúc này, cánh cổng kia bỗng mở tung ra. Trương Tiểu Kính một lần nữa xuất hiện trong tầm mắt của tất cả bọn chúng. Cả đám lính và Nguyên Tái đồng thời nuốt khan, cơ thể bỗng trở nên căng cứng.

Lần này, Trương Tiểu Kính không cầm đao trong tay. Trước mặt đám đông binh lính mà y không hề có ý định né tránh hay e sợ, bước chân vẫn thản nhiên điềm tĩnh tiến về phía trước. Nguyên Tái biết rằng nếu giờ hắn ra lệnh phóng tên thì có thể xóa bỏ hoàn toàn cơn ác mộng trước mắt.

Nhưng hắn vẫn luôn canh cánh về hai cái tên trên văn kiện kia.

Tại sao Lý Lâm Phủ và thái tử lại bắt tay với nhau? Việc hoãn lệnh truy nã liệu có phải nghĩa là Đông cung đã quyết định bảo vệ Trương Tiểu Kính hay không? Còn thái độ của Phượng Các thì sao? Có lẽ là không tình nguyện nhưng cũng đã thỏa hiệp rồi. Hắn ta bản tính đa nghi, cực kì nhạy cảm với bất kì động thái nào dù là nhỏ nhất trên chính trường. Sau một hồi lâu cân nhắc, Nguyên Tái chợt nhận ra rằng không thể giết Trương Tiểu Kính được.

Đây là một cái bẫy chết người! Trên văn kiện đã ghi rõ rành rành rằng phải dồn lực truy bắt Kiến Càng trước. Nếu hắn giết chết Trương Tiểu Kính ở đây thì chẳng khác nào làm trái lệnh cấp trên. Ngộ nhỡ Kiến Càng gây ra chuyện kinh thiên động địa nào đó thì việc hắn làm trái lệnh sẽ là cái cớ hoàn hảo nhất để chịu tội thay, để người ta nói rằng: “Kẻ gian làm loạn là lỗi của ngươi! Ai bảo ngươi không tuân lệnh cấp trên hả?”

Suy đoán này không phải không có căn cứ. Đổi lại, nếu Nguyên Tái là quan trên thì cũng nhất định sẽ làm như thế. Nghĩ vậy, vầng trán rộng của hắn lại lấm tấm mồ hôi lạnh. Đêm nay hắn đắc chí đến nỗi suýt nữa bất cẩn.

Thế còn việc bắt sống thì sao?

Nguyên Tái nhanh chóng từ bỏ ý nghĩ này. Nhìn khí thế quyết liệt của Trương Tiểu Kính, hắn biết điều này là không thể. Hoặc là đi hoặc là chết, không có lựa chọn thứ ba. Suy đi tính lại, Nguyên Tái nhận định rằng chỉ khi thả Trương Tiểu Kính đi thì mới ít rủi ro nhất.

Dù sao lệnh cấp trên là thế, ta chỉ đành theo lệnh mà làm thôi.

Trương Tiểu Kính ung dung bước về phía trước, chẳng buồn chớp mắt. Đám lính cầm khư khư cây nỏ, cánh tay run run, chờ đợi mệnh lệnh của cấp trên. Nhưng mãi không thấy Nguyên Tái nói gì khiến họ càng lúc càng cảm thấy áp lực.

Trương Tiểu Kính tiến thêm mười bước nữa. Con mắt dữ tợn và gò má nhăn nheo ngày một rõ nét nhưng Nguyên Tái vẫn không nhúc nhích. Một khi chưa có lệnh, quân Lữ Bôn cũng không thể làm gì, bởi chỉ cần di chuyển thì đội hình sẽ rơi vào hỗn loạn. Trương Tiểu Kính lại tiến gần thêm năm bước nữa. Cuối cùng, Nguyên Tái cũng nghiến răng nghiến lợi cất lời: “Thu tên! Nhường đường!”

Đám lính đang định bóp cò, đầu ngón tay bỗng run run. Cái gì? Thu tên? Không phải họ nghe nhầm đó chứ? Nguyên Tái lại hét lên: “Nhường đường! Nhường đường! Mau nhường đường!” Quân Lữ Bôn dù sao cũng được huấn luyện rất bài bản, dẫu không hiểu tại sao nhưng họ vẫn nghiêm chỉnh tuân theo mệnh lệnh.

Đám lính nhất tề buông nỏ xuống, tách sang hai bên để tạo thành một lối đi. Ngay cả Trương Tiểu Kính cũng không khỏi giật mình. Y đã chuẩn bị sẵn tinh thần cho một trận gió tanh mưa máu nhưng không ngờ đối phương lại chủ động nhường đường. Chuyện này là thế nào?

Dù bối rối nhưng y vẫn tiếp tục bước tiếp, đến trước mặt Nguyên Tái mới dừng lại. Nguyên Tái căng thẳng cực độ, cảm giác như đang bị một con rắn độc nhìn chằm chằm. Hắn vô thức lùi về phía sau lẩn trốn, để nhỡ đối phương có thình lình nảy sinh sát ý thì vẫn có binh lính che chắn.

“Chuyện liên quan đến bạn bè của ta, ta sẽ tính sổ với ngươi sau. Giờ, đưa ngay cho ta một con khoái mã.” Trương Tiểu Kính lạnh lùng nói.

Nguyên Tái không khỏi bực mình. Ngươi giết chết bao nhiêu lính của ta, sống được ra khỏi đây đã là tốt phước lắm rồi, vậy mà vẫn còn dám đòi này đòi kia ư? Nhưng vừa chạm phải cái nhìn của Trương Tiểu Kính, hắn lập tức rụt cổ lại, không có gan cãi lý.

Một thớt ngựa nhanh chóng được dắt tới. Trương Tiểu Kính nhảy tót lên lưng ngựa rồi cúi xuống nói với Nguyên Tái: “Nếu các ngươi còn có chút khôn ngoan thì mau đến trước cung Hưng Khánh. Đám Kiến Càng đều đang ở đó.”

Nói xong, y quay người thúc ngựa vun vút rời đi.

----------------------------------------

Lúc này, con đường từ phường Thực Nghiệp đến cung Hưng Khánh là con đường đông đúc nhất Trường An. Các phường dọc đường như Vụ Bản, Bình Khang, Sùng Nhân và chợ Đông đều là những địa điểm đèn hoa rực rỡ bậc nhất. Năm nay, lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên đứng sừng sững trước cung Hưng Khánh, nổi bật hơn cả tháp Đại Nhạn, càng thu hút sự chú ý của đám đông hiếu kỳ. Từ trên cao nhìn xuống thành Trường An sẽ thấy quảng trường trước cung Hưng Khánh như một hồ nước khổng lồ, nơi dòng người từ bốn phương tám hướng đổ về, tựa như trăm sông chảy ra biển lớn.

Để giảm bớt áp lực của lượng người quá đỗi đông đúc, các phường lần lượt mở toang cổng và các cung đường chính, cho phép du khách lưu thông. Nhưng ngay cả khi làm vậy, tình hình giao thông vẫn không được cải thiện.

Nhất là sau giờ Tý, sức nóng trên những con phố lớn không những không hạ nhiệt mà còn ngày một nóng hơn. Tiếng nhạc, tiếng trống triền miên không dứt, hương nến ngào ngạt khắp lối, lụa rủ thướt tha, ngọc châu lấp lánh. Những hoan lạc vui tai thích mắt ấy quần tụ thành một bàn tay vô hình, nuốt chửng những người say sưa trong ánh hoa đăng, hòa tan họ thành một phần của bầu không khí. Đám người vừa hưng phấn vừa mê loạn mù quáng đi theo dòng người như ma đưa lối quỷ dẫn đường, vô thức nhảy múa lắc lư, đắm chìm đến nỗi chỉ một dải lụa bay qua không trung cũng dấy lên một trận xôn xao.

Kỹ thuật cưỡi ngựa của Trương Tiểu Kính rất xuất sắc, thớt ngựa cũng thượng hạng nhưng hoàn toàn vô dụng trong tình hình này. Dù có cố đi vòng từ phía nam cũng không được, bởi dòng người từ khắp nơi đều đổ về một hướng nên không còn một con đường nào thông thoáng. Trương Tiểu Kính chỉ nhúc nhích được vài bước, y nhanh chóng nhận ra rằng nếu cứ di chuyển như thế này thì một canh giờ nữa cũng không đi đến đâu.

Một canh giờ này quá xa xỉ với Trương Tiểu Kính… Không! Với cả thành Trường An cũng vậy.

Trương Tiểu Kính dứt khoát nhảy xuống ngựa, một mắt dáo dác tìm kiếm xem có cách nào khác đi nhanh hơn được không. Đáng tiếc y không khỏi thất vọng. Tất cả các con đường từ đây đến cung Hưng Khánh đều đã chật kín người đi lại, ngay cả con chuột cũng không chạy qua nổi, huống chi là một con ngựa. Y lại đánh mắt lên những bức tường phường. Bề dày tường chừng hai thước, cố gắng lắm cũng có thể đi tạm trên đó. Tiếc rằng giờ đây ngay cả bờ tường cũng đã chật kín kẻ đứng người ngồi, nom lổm nhổm như những con tích thú trên mái nhà.

Trương Tiểu Kính nhìn quanh mấy lần nhưng cũng không tìm được biện pháp nào nhanh hơn, còn nếu đi bộ thì sẽ mất ít nhất nửa canh giờ. Đúng lúc này, một giọng nữ cao vút, trong trẻo từ xa truyền đến như tiếng roi quất giữa trời cao, lập tức át đi mọi âm thanh huyên náo. Tiếng hát vừa dứt, tiếng vỗ tay, reo hò của hàng trăm ngàn người như những cơn sóng ùa tới, mãnh liệt và sục sôi, khiến cả những ánh đèn ven đường cũng rung chuyển theo.

Trương Tiểu Kính ngước nhìn, thấy hai xe bạt đăng đang tỉ thí tài nghệ. Một xe hóa trang thành hình hổ, ngay cả những con ngựa kéo xe cũng được khoác cho những tấm gấm vằn hổ, giữa xe có một bục tròn nhô lên, nom như sống lưng hổ cong cong. Ba tráng hán đứng trên bục, mỗi người cầm một bộ chũm chọe, vừa nhìn đã biết họ đang bắt chước Tần Vương phá trận vũ. Nhưng lúc này mặt mũi ai nấy đều ngẩn tò te, hẳn nhiên là đã bại trận rồi.

Bên chiến thắng ở phía đối diện họ. Đó là một chiếc xe bạt đăng hình phượng vĩ. Phía đuôi xe, hơn nghìn chiếc lông chim ngũ sắc được dán thành hình quạt rồi sắp xếp khéo léo thành hình cánh và đuôi phượng, từ dưới nhìn lên như là muôn chim đang chầu trước phượng.

Giữa xe có dựng một cây cột cao, trên cột quấn những dải lụa nhiều màu, đầu cột là một bục hẹp. Một xướng ca nữ mặc bộ nghê thường đứng trên bục cao cao, nom như tách biệt khỏi thế gian ồn ã. Giọng hát duyên dáng rung chuyển bầu trời ban nãy do chính cô cất lên.

Đám đông dân chúng xung quanh đồng thanh hô vang: “Hứa Hợp Tử! Hứa Hợp Tử!” Đó chính là tên của cô gái kia. Tiếng tung hô vang vọng mãi không thôi. Việc tỉ thí bạt đăng lấy tiếng hô của người xem để phân định thắng thua. Bên nào được tung hô to hơn, mạnh mẽ hơn chính là bên thắng cuộc. Chỉ bằng giọng hát của mình, vị cô nương Hứa Hợp Tử kia đã có thể khơi gợi sự cổ vũ nhiệt tình đến thế từ dân chúng vây quanh, cho thấy đối phương quả thực đã hoàn toàn thua cuộc.

Thắng trận này, Hứa Hợp Tử cầm quạt tròn kim tước chỉ về phía cung Hưng Khánh, ý chỉ đêm nay nàng nhất định sẽ có vinh dự bạt đăng. Hành động dám tuyên bố chiến thắng từ sớm này khiến dân chúng càng thêm hưng phấn. Hứa Hợp Tử đắc thắng, vui vẻ bước xuống khỏi đài cao, vào trong toa xe nghỉ ngơi. Khi nào gặp đối thủ bạt đăng tiếp theo, nàng mới tiếp tục lên đài nghênh chiến.

Xe ngựa bắt đầu từ từ di chuyển. Đám đông người hâm mộ vây quay cỗ xe, vừa hô vang tên nữ thần vừa cùng xe đi về phía trước. Niềm tin của họ rất vững chắc, họ nhất định sẽ dùng sự ủng hộ của mình để giúp nữ thần đạt được danh hiệu cao nhất đêm nay.

Một công tử ăn mặc sang trọng, có vẻ con nhà giàu sang phú quý, là người hâm mộ cuồng nhiệt nhất trong số đó. Chàng ta khăn vấn xộc xệch, ngực áo hở hang, mặt mũi si mê, một tay điên cuồng nắm lấy thành xe, tay còn lại đang chuẩn bị ném túi hương tùy thân lên xe. Đúng lúc này, chàng chợt liếc thấy một gã đàn ông chột mắt cũng đang chen lên. Chàng tức mình, định mắng cho gã đó một trận. Nhưng nào ngờ đối phương khỏe hơn, chẳng thèm ừ hứ tiếng nào mà cứ thế thúc thẳng vào bụng chàng đau điếng, khiến công tử cao quý ngã gục xuống đất.

Gã kia còn nhân tiện lấy con dao nhỏ bên hông công tử, giẫm lên lưng chàng ta rồi lấy đà nhẹ nhàng nhảy lên xe phượng vĩ.

Thùng sau của chiếc xe này được chế tạo đặc biệt, bịt kín bốn phía, không một kẽ hở, nên không sợ có người hâm mộ cuồng nhiệt nào bất ngờ xông vào. Nhưng điều đáng kinh ngạc là gã đàn ông kia chẳng thèm liếc nhìn thùng xe một cái mà cứ thế đi thẳng về phía đầu xe rồi thình lình kề dao lên cổ phu xe.

“Cứ đi thẳng về phía trước! Không được dừng giữa đường!” Trương Tiểu Kính gằn giọng. Phu xe sợ hãi, lắp bắp đáp rằng đây là xe bạt đăng của Hứa cô nương, lỡ như giữa đường phải tỉ thí tài nghệ thì làm thế nào. Luật tỉ thí vốn là một khi hai xe gặp nhau thì phải dừng lại đấu một trận, người thắng mới được đi thẳng còn kẻ thua buộc phải đi vòng.

Trương Tiểu Kính khẽ ấn con dao xuống, lặp lại: “Cứ đi thẳng về phía trước! Không được dừng giữa đường!”

Phu xe không hiểu lý do tại sao nhưng lưỡi dao sắc lạnh kế trên cổ kia quả thật khiến hắn buộc phải giật dây cương, thúc ngựa đi nhanh hơn. Đám đông người hâm mộ vây quanh cũng lũ lượt tăng tốc, vừa đi vừa hô to ‘Hứa Hợp Tử’ khiến dân chúng nghe thấy liền chủ động nhường đường.

Hành động này của Trương Tiểu Kính có vẻ điên rồ, nhưng y quả thực không còn lựa chọn nào khác nữa. Đường phố đông như nêm cối, chỉ có xe bạt đăng có thể thuận lợi lưu thông. Bởi lẽ, mọi người ai ai cũng muốn xem tỉ thí tài nghệ nên đương nhiên không chặn trước xe, thậm chí còn có cả những người hâm mộ cuồng nhiệt sẵn sàng dạt sạch đường phía trước cho xe đi.

Y không còn lựa chọn nào khác, chỉ đành công nhiên uy hiếp xe của Hứa Hợp Tử trước con mắt của biết bao người.

Dân chúng phía trước dạt sang hai bên, cỗ xe phượng vĩ cũng dần dần tăng tốc khiến đám đông người hâm mộ gần như không đuổi kịp.

Nó nhanh chóng băng qua hai ngã tư Vụ Bản Khai Hóa và Bình Khang Sùng Nhân rồi hướng thẳng về phía chợ Đông.

Đúng lúc này, một hồi trống đột nhiên gióng lên từ phía bên phải chiếc xe. Kế đó, một cỗ xe xuân hồ mang đậm phong cách Tây Vực lù lù xuất hiện từ con đường nằm giữa chợ Đông và phường Tuyên Dương cùng một đám đông người hâm mộ lũ lượt kéo theo sau. Tiếng trống tùng, tùng thúc giục từ nóc xe xuân hồ, một vũ nữ người Hồ thắt đáy lưng ong, xiêm áo lòe loẹt uyển chuyển xuất hiện trên xe, tỏ ý thách đấu với xe phượng vĩ.

Vào lúc ai nấy đều đang nín thở mong chờ một hiệp tỉ thí đặc sắc thì xe phượng vĩ lại đột nhiên quay đầu, phi thẳng vào con đường ở phía bắc chợ Đông, như làm ngơ trước hành động thách đấu của cỗ xe xuân hồ kia.

Hành động xúc phạm thô lỗ và lộ liễu này lập tức khiến đám đông người hâm mộ của phía xe xuân hồ giận dữ, la ó, chửi bới ầm ĩ. Đúng lúc người hâm mộ của xe phượng vĩ ùn ùn chạy tới, thấy nữ thần của mình bị sỉ nhục thì cũng lao vào đấu võ mồm dù không biết đầu đuôi thế nào. Đôi bên mắng tới mắng lui, dần dần bắt đầu động tay động chân, biến ngã tư đường trở thành chiến trường hỗn loạn.

Trong khi đó, cỗ xe phượng vĩ hoàn toàn không có ý định giảm tốc, chỉ cần vượt qua chợ Đông thì sẽ tới được cung Hưng Khánh. Đúng lúc này, cửa thùng xe bật mở từ bên trong, một người đàn bà thò đầu ra.

Thì ra người ở trong thùng xe cũng nghe thấy tiếng trống thách đấu đầu nhưng lại không thấy xe dừng, nên ma ma phụ trách chăm sóc Hứa Hợp Tử liền ngó ra xem có chuyện gì. Vừa nhìn thấy gã đàn ông hung dữ chỉ có một mắt đứng cạnh phu xe, bà ta lập tức sợ hãi hét lên: “Tai họa rồi! Tai họa rồi! Đồ cuồng nào đến rồi!”

Tết Thượng Nguyên năm nào cũng có những thành phần hâm mộ quá mức cuồng nhiệt, sẵn sàng làm những chuyện đi quá giới hạn, như là: tự sát lập lời thề, lấy dao uy hiếp cầu được yêu, bám đuôi ngày đêm, ăn cắp áo yếm…, nhìn chung là việc gì cũng có thể làm được. Những kẻ này thường được gọi là ‘đồ cuồng’. Bà ta thấy Trương Tiểu Kính lù lù trên xe liền cho rằng y là một kẻ như vậy.

Trương Tiểu Kính quay đầu, vẫy vẫy lệnh bài trên thắt lưng rồi nói với bà: “Ti Tĩnh An làm việc! Tạm thời điều động cỗ xe này.”

Bà ta nghe thấy y là người của quan phủ, nhưng cũng không chịu bỏ cuộc: “Hứa nương tử đã bỏ cả ngàn quan tiền vào đây. Ngươi mở miệng ra đòi điều động làm lỡ dở chuyện trọng đại bạt đăng thì ai đền đây?”

Trương Tiểu Kính chẳng buồn nhiều lời, dứt khoát phi con dao cắm phập vào khung xe ngay cạnh đầu bà ta, làm mẻ cả một nửa cây trâm đang cài búi tóc. Bà ta sợ hãi lùi lại một bước rồi ngã phịch vào trong thùng xe. Qua cánh cửa hé mở, Trương Tiểu Kính nhìn thấy một cô nương mặt tròn đang ngồi bên trong. Tay nàng bưng bát súp lê ấm họng, vẻ mặt bình tĩnh, còn bộ váy nghê thường đang được đặt trên một chiếc kệ nhỏ bên cạnh.

“Ma ma à! Nếu quân gia đây cần điều động thì cứ nghe lời ngài ấy đi.” Hứa Hợp Tử bình tĩnh nói, không hề tỏ vẻ kinh sợ hay tức giận.

Trương Tiểu Kính chắp tay. “Làm chậm trễ việc bạt đăng của cô nương rồi! Nhưng tại hạ còn chuyện quan trọng khác phải làm, không còn cách nào khác. Mong cô nương thứ tội!”

“Còn quan trọng hơn việc bạt đăng sao?” Hứa Hợp Tử tò mò hỏi. Giọng nàng nhẹ như gió, có lẽ là cố ý bảo vệ họng.

“Một trời một vực!”

Hứa Hợp Tử cười nói: “Vậy thì tốt! Ta cũng đang muốn lười biếng một chút!” Nói xong, nàng lại nâng bát súp lên nhấp một ngụm nhỏ. Từng động tác của nàng nom thật điềm tĩnh, an nhiên, không hề mạnh mẽ, quyết liệt như lúc trên đài cao.

“Cô nương không sợ sao?” Trương Tiểu Kính nheo mắt hỏi.

“Dù sao thì sợ hãi cũng có ích gì đâu. Phải không?”

Trương Tiểu Kính bật cười, cảm thấy nỗi lo trong lòng như vơi đi một chút. Y lại chắp tay cúi chào Hứa Hợp Tử rồi quay lại bên cạnh phu xe.

Lúc này, xe đã chạy đến gần quảng trường trước cung Hưng Khánh. Chẳng mấy chốc nữa là đến thời khắc lên đèn, mọi cổng vào đều đã bị Long Võ quân phong tỏa nghiêm ngặt. Rất nhiều người đã sớm xếp hàng ở đây để đợi đến lúc được tiến vào. Tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên sừng sững cách đó không xa. Ánh nến mờ ảo phản chiếu bóng người lập lòe đang di chuyển bên trong.

Trương Tiểu Kính quan sát một lúc rồi nói: “Được rồi! Dừng ở đây!”

Xe ngựa nhắm dừng ở một góc cách cổng vào mấy chục bước. Xe chưa dừng hẳn, Trương Tiểu Kính đã nhảy xuống. Đúng lúc y đang định rời đi thì phía sau vang lên giọng nói dịu dàng của Hứa Hợp Tử: “Quân gia ti Tĩnh An cố gắng nhé!”

Trương Tiểu Kính dừng bước, dặn dò một câu: “Tốt nhất các ngươi nên rời đi luôn đi! Càng xa cung Hưng Khánh càng tốt.” Nói xong, y vội vàng chạy đi.

Đợi đến khi bóng y khuất dần, phu xe mới dám sờ tay lên cổ, giận dữ mắng: “Đồ cuồng này!” Hứa Hợp Tử đặt bát súp xuống, khẽ nhíu mày. “Ta cảm thấy chúng ta nên nghe lời hắn.”

Ma ma bò lổm ngổm dậy. “Cô nương hồ đồ rồi sao? Mấy lời nói nhảm của gã điên ấy mà cô cũng tin ư?”

Hứa Hợp Tử nhìn bóng người ấy đằng xa, khẽ thở dài. “Ta tin. Ta chưa từng nhìn thấy ánh mắt ai tuyệt vọng như vậy.”

Trương Tiểu Kính không hề hay biết đến mẩu đối thoại nhỏ này sau lưng mình và cũng không muốn biết. Lúc này, y đã hòa mình vào đám đông, từng bước tiếp cận quảng trường.

Từ đây có thể nghe thấy tiếng nhạc dặt dìu truyền tới từ Cần Chính Vụ Bản Lâu cách đó không xa. Xuân yến Thượng Nguyên vẫn đang diễn ra. Nhiêu người đến đây chỉ để nghe chút nhạc, ngửi chút hương vị của ngon vật lạ, để cảm thấy chẳng khác nào được mời đến dự bữa yến tiệc này.

Giữa đám đông, chỉ mình Trương Tiểu Kính đang dồn sự chú ý lên Long Võ quân. Quả nhiên không nằm ngoài dự liệu của y, quảng trường này cảnh giới phía ngoài thì lỏng lẻo nhưng bên trong lại cực kì nghiêm ngặt, trạm gác dày đặc, người bình thường không được phép vào. Đám Kiến Càng kia chắc chắn đã làm giả được trúc tịch thợ thủ công rồi trà trộn vào đây bằng cách đó.

Trực tiếp phá vòng vây rồi xông thẳng vào là điều không thể. Nếu làm thế, y nhất định sẽ bị giết ngay tại chỗ. Trương Tiểu Kính tính đến việc tìm gặp quân lính cấp cao của Long Võ quân để cảnh báo nhưng trong tay y không có chứng cứ. Ngỡ rằng mình vẫn đang bị truy nã toàn thành, lại cộng thêm thân phận tử tù, y còn lạ gì thái độ của đám quan lại Đại Đường với một kẻ như mình.

Trương Tiểu Kính thở dài thườn thượt. Đám người Lý Tất, Diêu Nhữ Năng, Từ Tân, Đàn Kỳ và Y Tư đều đã không còn, hệ thống vọng lâu thì hoàn toàn sụp đổ. Giờ đây, y chỉ còn một thân một mình. Không một ai ủng hộ, không một ai tin tưởng, thậm chí không một ai biết y đang làm gì. Thứ duy nhất đi cùng y đến bước đường này chỉ có tấm lệnh bài của ti Tĩnh An đeo bên hông.

Trương Tiểu Kính vô thức đưa tay lau hốc mắt.

Y liếc nhìn tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu một lần nữa rồi lặng lẽ rời khỏi đám đông, đi theo hướng ngược lại và nhanh nhẹn lách mình vào cổng phường Đạo Chính.

Phường Đạo Chính nằm ở phía nam của quảng trường trước cung Hưng Khánh. Trước đây, khi phường Hưng Khánh được mở rộng để làm cung điện đã lấy một phần diện tích của phường Đạo Chính. Vì vậy, hai nơi này gần như kề sát nhau. Cũng vì lý do này mà Long Võ quân đã bố trí binh lính ở đây, đề phòng kẻ gian chiếm giữ những điểm cao. Tuy nhiên, họ lại không mấy để ý đến những vùng có thế đất thấp, cũng không phong tỏa toàn bộ khu vực.

Sau khi vào trong phường Đạo Chính, Trương Tiểu Kính cố gắng né tránh Long Võ quân tuần tra, đi thẳng về phía đông, băng qua những dinh thự giàu có để đến một khoảnh đất trũng có hòe mọc thành rừng. Ở giữa vùng trũng đó có quây thành một ao nước nhỏ. Cống nước mưa từ khắp các đường lớn ngõ nhỏ trong phường đều chảy về đây, sau đó chảy vào kênh Long Thủ qua một con mương.

Bấy giờ mới là đầu xuân, ao nước cạn khô nhìn thấy đáy. Trương Tiểu Kính cẩn thận mò mẫm dọc từ bờ xuống tận đáy ao, sau đó tiếp tục men theo con mương để tìm đường đi về phía trước. Khi sắp đến kênh Long Thủ, y ngồi xổm xuống nhằm tìm kiếm một ống thoát nước ngay cạnh cống xả nước vào kênh chính. Cái ống đó rất dài, chạy song song với kênh Long Thủ, dẫn Trương Tiểu Kính đến một lối vào tối tăm ngay dưới bờ kè của con kênh, được che chắn bằng bốn cây cột vảy rồng dựng thẳng.

Đây chính là bí mật Triều Phân nói cho y biết trước khi y rời khỏi phường Thực Nghiệp.

Dù được Mao Thuận thiết kế, nhưng tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên vẫn phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản nhất. Triều Phân chỉ ra rằng, muốn các giá đèn trong tòa lầu tự chuyển động thì bắt buộc phải dựa vào sức nước. Kênh Long Thủ cách cung Hưng Khánh vài chục bước chân về phía nam, nên không lý nào Mao Thuận lại không sử dụng nguồn nước này. Cách khả thi nhất là đào một ống ngầm vuông góc với dòng chảy của con kênh, dẫn nước tới dưới chân tòa lầu đèn để sức nước làm quay bánh xe, từ đó cung cấp năng lượng.

Theo tính toán của Triều Phân, với thể tích khổng lồ như tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên thì lượng nước dẫn vào cũng phải cực lớn, hơn nữa còn phải thuận tiện cho thợ thủ công sửa chữa nên ống ngầm kia cần rộng ít nhất vừa cho một người vào.

Như vậy, Trương Tiểu Kính không cần phải băng qua quảng trường mà vẫn có thể đi thẳng tới trung tâm tòa lầu đèn từ đây.

Bốn cây cột vảy rồng lởm chởm đá nhọn khiến ai đó muốn len qua khoảng cách giữa hai cột sẽ bị mắc kẹt giữa các lớp vảy, không thể cử động, tiến không được mà lùi cũng không xong, thậm chí dù bôi dầu lên người cũng vô dụng.

Nhưng Triều Phân đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc này và đưa cho Trương Tiểu Kính một cây đục cán thẳng. Y nhanh chóng đục gãy một cây cột vảy rồng rồi lách mình vào trong. Quả nhiên, trong đó là một đường ống đủ lớn để một người khom lưng di chuyển được. Nước từ kênh Long Thọ chảy ào ào vào.

Trương Tiểu Kính ngâm cả người xuống nước, chỉ ngóc mỗi mái đầu lên hít thở. Y ấn cây nỏ ở thắt lưng vào ống nước để từng bước, từng bước đi về phía trước. Cây nỏ đó cũng là do Triều Phân đưa cho. Thấy Trương Tiểu Kính không nhận cây đao, lão liền đưa cây nỏ đặc biệt này cho y. Điểm đặc biệt của cây nỏ này là có thể bắn liên tiếp bốn lần. Triển Phân vô cùng hy vọng Trương Tiểu Kính có thể một lần nữa tạo nên ‘cái đẹp’ khi dùng cây nỏ ấy.

Sau vài chục bước, đường ống đột nhiên sáng bừng, phía trước bỗng mở ra một không gian rộng rãi giống như địa cung dưới lòng đất. Dòng nước chảy qua chính giữa không gian. Ở mỗi bên dòng chảy đều có ba bánh xe khổng lồ chuyển động không ngừng dưới sức đẩy của nước, phát ra những tiếng kêu kẽo kẹt trong đêm tối. Đây hẳn là tầng dưới cùng của tòa lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên, cũng là nơi cung cấp năng lượng cho hàng trăm giá đèn bên trên. Trên đỉnh mái vòm có một khoảng không với hình thù kỳ lạ, không rõ để làm gì.

Hoàng đế Đại Đường quả thực đã chi rất nhiều tiền cho một lầu đèn chỉ thắp sáng trong ba ngày này!

Trương Tiểu Kính bò ra khỏi mặt nước, vừa vắt nước qua loa ở góc áo, vừa nương theo ánh sáng mờ mờ ảo ảo để nhìn về phía trước. Y nhìn thấy một cánh cửa gỗ đơn sơ ở phía cuối địa cung, dường như được nối với một cầu thang. Đó có lẽ là lối ra vào của địa cung này. Một ngọn đuốc treo trên cánh cửa miễn cưỡng chiếu sáng cả không gian.

Ở một góc tối, hình như có vài bóng người đang đứng. Trương Tiểu Kính vừa nâng nỏ, vừa cẩn thận áp sát. Lúc sắp tới gần, mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào mũi y.

Trương Tiểu Kính nín thở, tập trung quan sát. Y nhận ra những người đó không phải đang đứng, mà là dặt dẹo dựa vào mấy chiếc rương gỗ, mặt mũi tái nhợt và đều đã tắt hơi. Những người này mặc áo ngắn màu nâu, chân đi giày mây không thấm nước, có lẽ là thợ thủ công phụ trách bánh xe.

Cạnh đó, một gã đàn ông lực lưỡng mặc quần áo bó sát đang nghịch đao trên tay.

Trương Tiểu Kính kinh hãi, quả nhiên Kiến Càng đã xâm nhập vào tòa lầu đèn.

Lúc này, một người đàn ông cao gầy khác đi ra từ bóng tối sau bánh xe nước phía bên kia. Hắn vừa bước đi thong dong, vừa khe khẽ ngân nga giai điệu nào đó. Ánh sáng nhá nhem khiến Trương Tiểu Kính không thể nhìn rõ mặt hắn. Gã lực lưỡng kia thu đao lại, cung kính nói: “Long Ba tiên sinh! Bên này đã xử lý xong xuôi rồi!”

Tên cao gầy kia thản nhiên lướt qua dãy xác chết la liệt, tặc lưỡi mấy cái, nghe không ra là tiếc nuối hay khen ngợi.

Vừa nghe thấy cái tên này, Trương Tiểu Kính chợt rùng mình. Long Ba? Cái gã ti Tĩnh An vẫn luôn khổ sở tìm kiếm cuối cùng cùng xuất hiện. Ban đầu, họ cho rằng gã ta chỉ là một nội gián của lang vệ Đột Quyết, nhưng giờ đây, rõ ràng gã mới chính là chủ mưu đứng sau tất cả mọi chuyện, là thủ lĩnh của Kiến Càng.

Trương Tiểu Kính nheo mắt, cong lưng sẵn sàng hành động. Đợi đến khoảnh khắc Long Ba bước tới gần cánh cửa, vừa chạm tới rìa sáng của ánh đuốc, Trương Tiểu Kính liền giương nỏ bắn hạ cây đuốc trên cửa xuống. Sau đó, lợi dụng thời cơ hai khoảng sáng tối giao nhau, y bất ngờ đạp chân phải xông ra với tốc độ cực nhanh, đồng thời bắn ra hai phát nổ liên tiếp.

Gã đàn ông lực lưỡng bị trúng hai tên, một vào trán, một vào cổ họng, cứ thế không kịp trở tay mà đổ rạp. Trương Tiểu Kính bổ nhào lên người Long Ba, ép chặt hắn xuống đất, dí mũi nỏ vào thái dương hắn.

Cây đuốc lăn lông lốc mấy vòng nhưng không tắt. Trương Tiểu Kính lách người né tránh. Nhờ chút ánh sáng còn sót lại, y mới nhìn thấy gương mặt gầy gò với chiếc mũi khoằm của đối phương. Cùng lúc đó, Long Ba cũng có cơ hội được nhìn rõ mặt y.

“Ồ! Trương đại đầu! Lâu lắm mới gặp!” Long Ba cười toét miệng.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!