CHÍNH MÃO[6 GIỜ SÁNG]
Hai người co rúm lại, cẩn thận trượt giữa không trung về phía tường thành. Bóng hình thân mật thật giống như đôi chim liền cánh chao liệng phía chân trời.
Chính Mão, ngày 15 tháng Giêng năm Thiên Bảo 3.
Cung Hưng Khánh, thành Trường An.
Cạnh tượng xi vẫn là một bức điêu khắc đá hình một người đàn ông lực lưỡng, nhìn như Kim Cang hộ pháp, với bộ râu quai nón xoắn tít, nửa thân trần, chỉ khoác nửa tấm da sư tử trên vai, đầu đội mũ gấp, còn có thêm hai cánh ở hai bên trang trí. Tay phải bức tượng giương cao, năm ngón xòe ra, tay trái cầm một cây gậy cực lớn, nhìn như đang say sưa giết chóc, sĩ khí sục sôi.
Hoàng đế không biết nguồn gốc của bức điêu khắc này, chỉ thấy nó không giống phong cách trung thổ mà có vẻ đến từ vùng Ba Tư, hơn nữa còn có một chút hơi hướng Túc Đặc.
Pho tượng đó không cao lắm, thấp hơn xi vẫn chừng một thước. Nó được đặt ở một vị trí rất khéo, được che chắn trước sau bởi tượng xi vẫn và phần mái nhà cong cong, nếu không lên tận nóc nhà mà nhìn trực diện thì sẽ không thể phát hiện ra được. Trong khi ở cả thành Trường An này, liệu có nơi nào có thể nhìn thẳng sang nóc nhà Cần Chính Vụ Bản Lâu không?
Sắc mặt hoàng đế càng ngày càng khó coi. Ngày nào ông cũng quanh quẩn trong tòa lầu này, nhưng chưa từng biết rằng ngay trên đầu mình lại tồn tại một món đồ cổ quái đến vậy. Lỡ như có ai đó yểm bùa hãm hại thì phải làm sao?
Tiêu Quy cười nói: “Bệ hạ chớ lo! Vị thần này tên là Át Lạc Sơn, là thần chiến tranh của vùng Ba Tư. Khi tòa lầu này được xây dựng, các thợ thủ công Ba Tư cũng tham gia và bí mật tạo ra một nơi chốn bí mật cho vị thần mà họ tôn thờ.”
Thợ thủ công Đại Đường rất giỏi nhưng không hề mang tâm lý bài xích việc tiếp thu kỹ thuật và phong cách của những vùng đất khác. Giống như trong một kiến trúc quy mô lớn của hoàng thất như tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu này, ngoài phong cách trung thổ chủ đạo thì còn có các chi tiết mang các loại phong cách như Đột Quyết, Ba Tư, Thổ Phiên, thậm chí cả Cao Ly, Phiêu Quốc, Lâm Ấp… Chính vì vậy, việc thợ thủ công nước ngoài tham gia vào quá trình xây dựng ở Đại Đường cũng không có gì là lạ. Những thợ thủ công này thỉnh thoảng sẽ giấu một số món đồ cá nhân ở những nơi khuất tầm nhìn, hoặc sẽ để lại tên hay một câu viết gì đó. Điều này là hết sức bình thường.
Tuy nhiên, bí mật đặt một pho tượng thần ngoại quốc dưới mái của một tòa cung điện hoàng thất lại cực kì hiếm thấy, không hiểu tại sao có thể thông qua kiểm tra và được nghiệm thu thế nào. Người giám sát công trình này tất phải chịu tội chém đầu.
Nhưng hiện tại hoàng đế đang nghĩ tới một vấn đề khác: Kiến Càng định chạy thoát bằng cách nào?
Bức tượng thần ngoại quốc này có ở đây nhưng vị trí của nó ở ngay trên nóc tòa nhà, xung quanh không một lối thoát. Lẽ nào vị thần chiến tranh này còn có thể bất ngờ hiển linh cõng họ xuống dưới sao?
Tiêu Quy bảo những người khác đi đến bên cạnh pho tượng Át Lạc Sơn, vỗ vỗ lên vai tượng đá rồi nhẹ nhàng vặn tay phải của nó. Cả bức tượng bất ngờ cạch một tiếng rồi đổ lệch sang một bên. Mọi người nhìn thấy ở bên dưới pho tượng xuất hiện một cái lỗ hình vuông lớn, khớp với bệ đỡ của bức điêu khắc đá ban đầu, trông như thể cái lỗ ấy được chọc qua mái hiên.
Lỗ hổng này là con đường được các thợ thủ công sử dụng để vận chuyển bùn, ngói, vật liệu xây dựng khi làm mái hiên. Đầu tiên, họ sẽ trộn nguyên vật liệu ở dưới đất, sau đó cho vào thùng để truyền qua hệ thống dây thừng luồn qua lỗ hổng có thể buông xuống, kéo lên ở mái hiên nên rất tiện lợi. Có vẻ như sau khi những người thợ thủ công Ba Tư hoàn thành việc xây dựng, họ đã không bịt kín lỗ hổng này theo quy định mà chỉ đậy lại bằng pho tượng Át Lạc Sơn.
“Sao ngươi biết điều này?” Hoàng đế trừng mắt nhìn Tiêu Quy. Tự tôn của bậc đế vương không thể chấp nhận được việc tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu này lại có nhiều kẽ hở đến vậy.
Tiêu Quy cảm khái nói: “Nói thế nào nhỉ… Pho tượng Át Lạc Sơn này là nguyên do đầu tiên khiến ta muốn yết kiến bệ hạ. Nhiều năm trước, khi còn là tội phạm bị truy nã, ta ôm lòng hận thù mà không biết làm sao mới báo thù được, phiêu bạt khắp nơi. Năm đó, ta vô tình gặp được một ông thợ thủ công người Ba Tư ở thành Tật Lăng, đã về hưu. Trong một lần say rượu, ông ta khoe khoang rằng mình đã từng xây lầu cho thiên tử, hơn nữa còn lén lút thờ phụng thần chiến tranh ở trên nóc cung điện của hoàng đế. Đương nhiên, ông thợ thủ công này không có ý đồ gì xấu, ông ta chỉ hy vọng rằng Át Lạc Sơn có thể có một chỗ đứng nhất định ở hoàng thất trung thổ. Nhưng tin này vào tai ta lại mang một ý nghĩa khác.”
Hoàng đế nghe vậy, bờ vai run lên vì tức giận.
“Ta rót thêm mấy ly, ông ấy liền tiết lộ tất cả chi tiết: pho tượng này ở đâu, hình dáng như thế nào, cách mở ra sao…, nói hết từ đầu đến cuối. Ta hỏi thêm dăm ba câu nữa nhưng cũng không có thêm thông tin gì mới, nên tiện tay tiễn ông ta về chầu trời. Chắc các ngươi hiểu tại sao chứ? Lỡ ông ấy mà kể cho ai khác nữa thì đúng là hỏng việc.” Tiêu Quy nói nhẹ bẫng như đang kể một câu chuyện tầm phào nào đó. “Kể từ đó, ta vẫn luôn suy nghĩ xem làm thế nào có thể lợi dụng lối đi bí mật này để đối phó với bệ hạ. Ban đầu chỉ là một ý tưởng mơ hồ, nhưng sau nhiều lần suy đi tính lại, không ngừng hoàn thiện thì cuối cùng nó cũng trở thành một kế hoạch hoàn hảo. Nếu không có pho tượng Át Lạc Sơn này thì cả ta và người đều sẽ không có chuyện ngày hôm nay.”
Tiêu Quy vỗ pho tượng, bồi hồi nói. Hoàng đế im lặng hồi lâu, một hành động vô ý của gã thợ thủ công hơn chục năm trước lại trở thành tai họa. Vận mệnh biến đổi kỳ diệu đến mức không thể diễn tả bằng lời.
Tiêu Quy vừa nói vừa tháo cuộn dây thừng ở thắt lưng ra. Những tên Kiến Càng khác cũng đồng loạt cởi dây, nhanh chóng nối thành một đoạn dài. Nhưng tất cả mọi người, kể cả Thái Chân, đều nhận ra rằng độ dài này không đủ chạm đất.
“Độ dài này chỉ đủ chạm tới tầng ba. Chẳng lẽ các ngươi muốn nhảy từ đó xuống sao?” Hoàng đế mỉa mai. “Cho dù các ngươi có may mắn sống sót thì cấm vệ quân cũng đã vây kín dưới đó, các ngươi không còn đường nào để trốn nữa đâu.”
“Không cần bệ hạ lo lắng!” Tiêu Quy thản nhiên nói.
Chúng buộc một đầu dây thừng vào phần đuôi xi vẫn, đầu kia từ từ thả xuống. Đúng như hoàng đế ước tính, sợi dây kia chỉ có thể buông xuống tầng ba. Hơn nữa, tầng ba là Yêu Phong đường, bốn mặt thông thoáng, nên không có mái hiên nhô ra như các tầng khác, không có chỗ an toàn để đặt chân.
Hoàng đế không châm chọc thêm nữa, ông rất muốn nhìn xem đến nước này, đám Kiến Càng đáng chết kia còn có thể giở trò gì.
Tiêu Quy giật giật sợi dây để đảm bảo nó đủ chắc chắn, sau đó dặn dò năm thành viên còn lại của Kiến Càng phải trông chừng con tin cẩn thận rồi nắm lấy sợi dây, từ từ trượt xuống dưới.
Tình hình hiện tại trong Cần Chính Vụ Bản Lâu đang vô cùng hỗn loạn. Phần lớn cấm vệ quân đều đã đến, họ xông vào từng tầng cứu người, bắt người, dập lửa. Tiếng hô hoán liên hồi, tiếng bước chân rầm rập không dứt. Bầu trời bên ngoài vẫn tối đen như mực. Không ai trong kia có thể nghĩ tới hay nhìn thấy đám Kiến Càng xảo quyệt đang treo mình trên một sợi dây mỏng, cách bên trong chỉ chừng vài trượng về phía đông, từ từ trượt xuống.
Thấy mình sắp đến tầng thứ ba, Tiêu Quy bắt đầu lắc lư cơ thể, để sợi dây lắc với biên độ thật rộng. Sau vài lần đung đưa qua lại, hắn đu thêm một lần nữa để đạt tới điểm cao nhất ở phía đông rồi siết chặt dây thừng, đu người một cái thật mạnh, nhảy lên bức tường thành màu xám đối diện tầng ba.
Tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu nằm ở giữa bức tường phía nam cung Hưng Khánh nên đầu phía đông và phía tây của nó đều tiếp giáp với một đoạn tường thành cao ngang bằng và gần sát với Yêu Phong đường ở tầng ba. Tuy nhiên, vì lý do an toàn, các tầng không được nối sát với tường thành mà cách một khoảng trống rộng khoảng ba trượng.
Ban nãy, khi Trương Tiểu Kính trượt xuống từ đỉnh lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên, vốn định rơi xuống tường thành, kết quả lại bị văng vào Yêu Phong đường ở tầng ba chỉ vì vụ sập bất ngờ. Giờ đây, Tiêu Quy gần như đang lặp lại việc đó.
Ý nghĩa trang trí của đoạn tường thành này lớn hơn ý nghĩa quân sự nên thiết kế coi trọng yếu tố thẩm mỹ đẹp mắt, tráng lệ. Thành lũy cao sừng sững và thẳng tắp, lối đi trên tường thành đủ cho khoái mã phi nước đại. Tiêu Quy nhanh chóng cố định đầu dây thừng vào lỗ cắm cờ trên tường thành, sau đó đều đặn kéo ba lần.
Trời quá tối, Tiêu Quy lại không thể nhóm lửa nên những người phía trên chỉ có thể nhìn sợi dây rung chuyển mà đoán rằng hắn đã hạ cánh an toàn. Vì vậy, đám Kiến Càng còn lại bắt đầu tiếp tục hành động. Chúng có hai con tin và một đồng bọn yếu đến mức không thể động đậy, nên bắt buộc phải chia ra mỗi nhóm hai người để từ từ trượt xuống.
Chúng không lo lắng con tin sẽ phản kháng, bởi không ai dám làm gì khi tính mạng của mình đang treo lơ lửng giữa đất trời. Nhưng có một rắc rối phải được giải quyết ngay: Thái Chân thấy mình sắp phải nhảy từ nơi cao như vậy xuống đất thì ngã khuỵu xuống, òa khóc nức nở, mặc kệ đám Kiến Càng có uy hiếp thế nào cũng không nghe.
Cuối cùng, một tên Kiến Càng không thể chịu đựng nổi nữa, định cứ thế đánh ngất nàng. Hoàng đế tức giận nói: “Các ngươi không được phép chạm vào nàng!”
Đám Kiến Càng quay phắt lại, hung ác nói: “Nếu nàng ta không chịu câm mồm, làm cầm vệ quân chạy lên đây thì chúng ta sẽ đẩy nàng ta xuống luôn cho xong!”
“Ta sẽ nói chuyện với nàng!” Hoàng đế đứng phắt dậy. Đám Kiến Càng do dự một lát rồi buông tay ông ra. Hoàng đế bước lên lớp ngói, đến bên cạnh Thái Chân, ngồi xuống âu yếm vén vầng trán tán loạn của nàng lên: “Thái Chân! Còn nhớ những lời ta từng nói với nàng không?”
“Dạ?” Thái Chân vẫn nức nở.
“Trên trời nguyện làm chim liền cánh, dưới đất nguyện làm cây liền cành.” Hoàng đế nắm lấy tay nàng, dịu dàng đọc hai câu thơ, như đùa hai người quay lại Trầm Hương đình ở bên cạnh Long trì. Thái Chân ngập ngừng ngẩng đầu lên, hai hàng nước mắt ướt đảm trên gò má trắng nõn.
Nàng nhớ hai câu thơ này đến từ một giấc mộng đẹp của hoàng đế. Trong mộng, người nhìn thấy một người họ Bạch quỳ dưới thềm son, muốn dâng thơ cho thiên tử và quý phi để khắc ghi mối tình của hai người. Người đó nói rất nhiều, nhưng khi tỉnh lại, hoàng đế chỉ nhớ hai câu này. Sau đó, người kể cho Thái Chân biết chuyện. Thái Chân giả vờ tức giận, nói rằng mình chỉ là một đạo cô, không phải quý phi gì. Hoàng đế liền ôm nàng vào lòng, hứa hẹn trong vòng một năm nhất định sẽ cho nàng một danh phận. Bấy giờ Thái Chân mới vui vẻ trở lại, hai người lại quấn lấy nhau.
“Nàng xem, bây giờ chúng ta có thể bay liệng trên trời như đôi chim liền cành, điều này chẳng phải đẹp lắm sao? Trẫm từng hứa với nàng nhất định sẽ không rời xa hay khiến nàng bị thương.” Hoàng đế nói xong thì ôm nàng vào lòng. Thái Chân vùi đầu trong lồng ngực hoàng đế, im lặng hồi lâu. Hai câu thơ này là bí mật nho nhỏ giữa nàng và hoàng đế, người ngoài không ai biết.
Hoàng đế đứng dậy, nhìn chằm chằm đám Kiến Càng: “Để trẫm cùng Thái Chân trượt xuống.”
Đám Kiến Càng ngây ra, Tiêu Quy không có ở đây, chúng không biết phải xử lý thế nào trước yêu cầu bất ngờ ấy. Lúc này, Trương Tiểu Kính lên tiếng: “Cứ làm thế đi! Dù sao thì ở cả hai đầu đều có người của chúng ta, bọn họ có thể chạy đi đâu được chứ?”
Mấy tên kia vẫn ngây ra, không có ý định nhúc nhích. Trương Tiểu Kính nghiêm mặt nói: “Các ngươi có thể đi hỏi Tiêu Quy xem có nên nghe lời Trương Tiểu Kính ta không?” Hắn từng làm bất lương soái nên rất biết cách ra oai. Đám Kiến Càng cũng biết mối quan hệ của y với thủ lĩnh nên dễ dàng bị thuyết phục.
Không ai để ý ánh mắt Thái Chân đột nhiên lóe lên khi nghe thấy cái tên ‘Trương Tiểu Kính’.
Đám Kiến Càng bận rộn buộc hoàng đế và Thái Chân lại với nhau, còn buộc thêm thắt lưng lên dây thừng, đề phòng hoàng đế tuổi cao sức yếu không giữ được dây.
Trương Tiểu Kính lúc này cũng hồi phục được chút sức lực, nói với bọn chúng để mình kiểm tra sợi dây. Hoàng đế thân phận cao quý nên cẩn thận hơn chút cũng không thừa. Trương Tiểu Kính đi tới, cố nén cơn đau nhức, vừa nắm lấy sợi dây vừa nhỏ giọng nói: “Bệ hạ! Ta tới cứu người.”
Hoàng đế nhếch mép cười lạnh, lúc này rồi còn định giờ trò nữa. Nhưng Thái Chân lại chớp chớp đôi mắt xinh đẹp, thì thầm: “Ta biết ngươi, ngươi là tình lang của Đàn Kỳ.”
Trương Tiểu Kính sững người, không biết tin đồn đó từ đâu mà có.
Trước đó, để thuyết phục Thái Chân, Đàn Kỳ đã nói dối rằng cô và Trương Tiểu Kính là tình nhân. Khi kể lại mọi chuyện cho Trương Tiểu Kính, Đàn Kỳ đương nhiên không dám kể lại chi tiết xấu hổ ấy. Tình thế hiện tại rất cấp bách, Trương Tiểu Kính cũng không hỏi thêm gì. Y siết chặt sợi dây, thì thầm: “Là thật hay là gì thì lát nữa bệ hạ sẽ biết ngay thôi. Xin hãy tùy cơ hành sự!” Nói rồi, y đứng cách ra.
Thái Chân nhắm nghiền mắt, hai tay ôm ghì lấy hoàng đế. Hoàng đế nắm lấy sợi dây, liếc nhìn xuống dưới rồi vội vàng đánh mắt đi nơi khác, sắc mặt tái nhợt. Thân là hoàng đế Đại Đường, cũng đã kinh qua không biết bao nhiêu nguy hiểm trong đời, nhưng đây là lần đầu tiên ông gặp phải tình huống như ngày hôm nay.
Dù sao cũng là người từng trải, ông nghiến răng, nắm chặt sợi dây, dồn sức nặng của hai người lên đó rồi từ từ trượt xuống lỗ hổng.
Hai người co rúm lại, cẩn thận trượt giữa không trung về phía tường thành. Bóng hình thân mật thật giống như đôi chim liền cánh chao liệng phía chân trời. Tốc độ của họ rất chậm, thậm chí còn gặp phải một số tình huống thót tim giữa đường. May là hoàng đế bình thường cũng hay tập mã cầu, lại chịu khó giữ gìn sức khỏe nên thể chất mạnh mẽ và phản ứng nhanh nhạy hơn nhiều so với những người già bình thường. Cuối cùng, hai người cũng coi như an toàn đáp xuống tường thành mà không gặp phải nguy hiểm nào.
Tiêu Quy vừa nhìn thấy người xuống là hoàng đế, liền chạy tới áp chế. Về phần Thái Chân, hắn không cần quá lo lắng bởi nàng đã sợ đến mức bất tỉnh nhân sự.
Ngay sau đó, một Kiến Càng cũng thuận lợi trượt xuống cùng với Trương Tiểu Kính buộc chặt trên người. Vì Trương Tiểu Kính đã khôi phục được một ít sức lực, hai tay cũng có thể nắm chặt sợi dây để chia sẻ áp lực với đối phương nên hai người bọn họ trượt xuống dễ dàng hơn hoàng đế và Thái Chân.
Tuy nhiên, khi tên Kiến Càng tiếp theo trượt xuống thì tai nạn đã xảy ra.
Hắn mới trượt được nửa đường, sợi dây bỗng như không chịu được sức nặng nữa, đứt phựt giữa không trung. Một bóng đen lao từ trên xuống, đập mạnh vào tường thành, xương sống đập trúng phần tường nhô cao, khiến toàn thân lập tức gãy làm đôi trong khi chưa kịp kêu lên tiếng nào. Nửa trên cơ thể lại bị quăng xuống, đầu vỡ nát, não bắn tung tóe lên tường thành.
May mắn là Thái Chân đang hôn mê nên không nhìn thấy cảnh tượng bi thảm này, nếu không nàng ta nhất định sẽ hét lên sợ hãi, khiến tất cả đều phải rước lấy họa sát thân. Hoàng đế đang dìu Thái Chân thấy vậy thì nhướng mày, không khỏi liếc nhìn sang Trương Tiểu Kính.
Tiêu Quy ngơ ngác đứng nguyên tại chỗ, vẻ mặt tỏ rõ sự kinh ngạc. Máu rỉ ra từ con mắt bị thương phủ kín nửa gương mặt, khiến hắn nom cực kỳ hung dữ.
Đây không chỉ là vấn đề mất đi một người. Dây thừng chỉ có một giờ đã không còn lành lặn, chẳng khác nào chặt đứt hoàn toàn đường lui của ba người phía trên. Hiện tại, ngoài Trương Tiểu Kính gần như phế một nửa thì trong tay Tiêu Quy chỉ còn lại một thuộc hạ mà thôi.
Sợi dây kia được kết từ sợi ma dương và lông đuôi ngựa, nhúng vào nước lạnh cho co lại rồi ngâm trong dầu, cực kì chắc chắn, không thể dễ dàng đứt như vậy được. Trước khi đi xuống, Tiêu Quy đã kiểm tra từng tấc một và không phát hiện mối nguy tiềm ẩn nào. Tại sao nó lại đứt một cách khó hiểu như vậy được?
Tiêu Quy còn đang trầm ngâm suy nghĩ thì Trương Tiểu Kính đã lặng lẽ chắp tay lại, nhét một con dao gấp cán ngà voi không phải của mình vào trong tay áo. Thứ này được y lén lấy cắp khi ở gần hoàng đế ban nãy.
Lúc Trương Tiểu Kính nắm lấy sợi dây, y đã giấu dao trong lòng bàn tay, dùng hai ngón kẹp mũi dao lại. Khi y trượt xuống, mũi dao đã âm thầm cắt đứt sợi dây. Đương nhiên, lực dao và góc cắt phải được kiểm soát thật tốt, đồng thời phải giữ lại phần nào khả năng chịu lực, nếu không sợi dây sẽ đứt trước khi y kịp chạm đất, khi ấy thì chẳng khác nào tự sát.
Trước đây, Trương Tiểu Kính đã từng sử dụng loại dây này và hiểu rất rõ đặc điểm của nó. Khi cắt, phải khẽ nâng mũi dao lên để chỉ xử lý lớp sợi cây ma dương bên ngoài. Sợi ma dương có tác dụng kéo dãn, còn đuôi ngựa lại hữu hiệu với những chỗ uốn cong. Vậy nên khi sợi ma dương bị đứt thì sợi đuôi ngựa vẫn duy trì được độ bền của sợi dây ở một mức độ nào đó, nhưng không thể chịu trọng lực được nữa.
“Đi thôi!”
Tiêu Quy chỉ ngước lên trên một cái rồi vội vàng xoay người, lạnh lùng nói. Ba Kiến Càng bị mắc kẹt trên mái nhà đã định sẵn là không còn đường sống, không nên lãng phí quá nhiều thời gian vào việc này.
Nhưng cho dù đám Kiến Càng có mưu mẹo đến đâu thì cuối cùng cũng chỉ đưa mọi người đến được đoạn tường thành phía nam này, sau đó còn có thể thế nào nữa? Hoàng đế rất quen thuộc với khu vực quanh đây, cứ mỗi năm mươi bộ trên tường thành lại có một trạm gác, cứ ba trạm gác lại có một chỉ huy phụ trách. Bọn họ vẫn đang mắc kẹt trong thiên la địa võng, không thể thoát ra.
Tiêu Quy nói: “Vừa rồi ta thoát được là nhờ ý đồ riêng của lão thợ Ba Tư, chặng đường còn lại thì phải cảm tạ ân đức của bệ hạ rồi.”
“Hả?” Hoàng đế đột nhiên cảm thấy có gì đó không đúng.
“Đến lối đi kép giáp tường thành.” Tiêu Quy nói.
----------------------------------------
Diêu Nhữ Năng co ro trong phòng giam, lạnh buốt cả thể xác lẫn tinh thần.
Cậu còn nhớ cảnh mình bị bắt ở đại vọng lâu. Khi ấy, cậu đang giương đèn lồng màu tím lên, tuyệt vọng gửi tín hiệu cho Trương Tiểu Kính: “Đừng quay lại! Đừng quay lại! Đừng quay lại!” Ti Tĩnh An đã không còn như trước nữa, vậy nên ‘đừng quay lại’. Sau đó, vài tên lính canh hung hăng nhào tới, lôi cậu ra khỏi đại vọng lâu rồi tống vào phòng giam lạnh lẽo này.
Diêu Nhữ Năng không hề biết rằng Văn Nhiễm cũng gần như bị bắt vào cùng thời điểm đó, cũng không hay biết tin tức mình gửi đi có tác động to lớn như thế nào đối với tình hình chung.
Diêu Nhữ Năng hiểu rõ chuyện gì sẽ đến với mình tiếp theo. Ngày mai, Cát Ôn và Nguyên Tái nhất định sẽ đổ lên đầu cậu một tội danh nào đó, danh tiếng gia tộc sẽ bị hủy hoại. Nhưng cậu không hề hối hận, bởi đó là một việc làm đúng đắn. Bất kể thế giới ngoài kia có bôi nhọ ra sao, thì cậu vẫn có thể tự đưa ra phán xét công bằng trong lòng. So với việc này, cậu càng lo lắng không biết Khuyết Lặc Hoắc Đa có được ngăn cản kịp thời hay không.
Nếu có Trương đồ úy thì nhất định không có vấn đề gì. Diêu Nhữ Năng mơ màng nghĩ.
Không biết bao lâu sau, có tiếng lạch cạch ở cửa phòng giam, hình như có người vừa mở khóa. Diêu Nhữ Năng ngẩng đầu, nhìn thấy một bóng hình quen thuộc đang chắp tay đứng bên ngoài.
“Lý ti thừa?”
Diêu Nhữ Năng vô cùng kinh ngạc, vội vàng bò dậy. Cậu muốn chào đón đối phương nhưng thấy Lý Tất có vẻ nghiêm trọng, nên đành cố gắng kiềm chế nỗi kích động trong lòng rồi chắp tay hành lễ đơn giản.
“Ta biết ngươi đầy một bụng thắc mắc và bất bình, nhưng giờ chưa phải lúc kể khổ.” Lý Tất không nhiều lời, trực tiếp đi thẳng vào vấn đề. “Ngươi lập tức quay lại đại vọng lâu để hệ thống vọng lâu hoạt động lại càng sớm càng tốt. Ta cần phong tỏa tất cả cổng thành, dừng hội hoa đăng và khôi phục lại lệnh giới nghiêm.”
Diêu Nhữ Năng chấn kinh. Tình hình đã nghiêm trọng đến mức này rồi sao? Cậu vốn định hỏi về Khuyết Lặc Hoắc Đa, nhưng xem ra hiện tại chỉ đành nuốt hết những lời muốn nói lại.
“Có thể làm nhanh đến mức nào?” Lý Tất hỏi.
Diêu Nhữ Năng suy nghĩ một lúc rồi đáp một khắc là được. Lý Tất giật mình, không ngờ có thể làm nhanh như thế.
Hầu hết các thành phần trong hệ thống vọng lâu đều hoạt động bình thường, chỉ có đại vọng lâu cần được tổ chức lại một chút. Khối lượng công việc không lớn, nhưng khó ở chỗ phải tìm được một người am hiểu về kỹ thuật của vọng lâu. Trước đó, sở dĩ mãi không sửa chữa được là vì Cát Ôn hoàn toàn không hiểu gì, cộng thêm việc hắn ta đuổi một loạt quan lại người Hồ đi nên nhân lực đã thiếu lại càng thiếu hơn.
Điều quan trọng nhất hiện tại là gửi tin tức đi, vì vậy không nhất thiết phải khôi phục đại vọng lâu lại hoàn toàn, mà chỉ cần dùng chức năng gửi và nhận tin tức đơn giản là được. Chính vì thế, Diêu Nhữ Năng mới dám vỗ ngực tự tin như vậy.
Nghe Diêu Nhữ Năng giải thích, Lý Tất hài lòng nói: “Được lắm! Làm luôn đi. Cần gì cứ nói.”
“Vâng!”
Lý Tất ra hiệu cho người đỡ Diêu Nhữ Năng dậy và đưa cho cậu một bát canh thịt cừu nóng hồi với vài miếng bánh bên trong. Diêu Nhữ Năng vừa lạnh vừa đói nên lập tức húp lấy húp để. Lúc này, Lý Tất đột nhiên hỏi một vấn đề khác: “Ti Tĩnh An có nội gián, ngươi có biết không?”
“Hả? Thuộc hạ không biết.” Diêu Nhữ Năng kinh ngạc đến nỗi suýt đánh rơi cái bát trên tay xuống đất. “Nếu biết thì thuộc hạ đã sớm báo lên cấp trên rồi.”
Lý Tất nói: “Sau khi phân tích, chúng ta đoán rằng kẻ nội gián này hẳn đã từng tiếp xúc với ngươi, hơn nữa nhất định từng để lộ sơ hở nào đó. Ngươi nghĩ kĩ đi, nếu nhớ ra gì thì cứ nói cho ta.” Thế rồi, cậu xoay người rời đi.
Diêu Nhữ Năng trịnh trọng gật đầu, đột nhiên tò mò hỏi: “Là Từ chủ sự phân tích như vậy sao?”
Lý Tất thoáng dừng bước nhưng không nói gì rồi cứ thế đi về phía trước. Diêu Nhữ Năng cảm thấy hơi khó hiểu nhưng bây giờ không phải thời điểm thích hợp để hỏi. Cậu ăn hết bát canh thịt cừu, vỗ mạnh vào hai má, hét lên một tiếng thật lớn rồi sải bước về phía đại vọng lâu.
Lý Tất nghe thấy tiếng hét tràn đầy năng lượng phía sau, không khỏi thở dài. Cậu đột nhiên cảm thấy ghen tị với sự đơn thuần của Diêu Nhữ Năng.
Nếu biết được tình hình hiện tại của thành Trường An, e rằng cậu ta sẽ không còn thoải mái như vậy nữa. Nhưng nói đi cũng phải nói lại, liệu có ai có thể làm chủ được tất cả đây? Lý Tất lại vô thức nghĩ tới Trương Tiểu Kính, tự hỏi y đã ở đâu khi lầu đèn phát nổ.
Điều duy nhất Lý Tất chắc chắn là gã đó nhất định sẽ không bỏ cuộc dù chỉ còn le lói một tia hy vọng.
À! Đúng rồi! Còn cả Đàn Kỳ nữa. Lý Tất rất ngạc nhiên khi mãi đến lúc này cậu mới nhớ ra cô. Đã không còn tin tức gì kể từ sau khi cô đi cùng Trương Tiểu Kính. Chỉ có điều cô gái này rất thông minh, nên chắc là đã trốn ở một nơi an toàn nào đó rồi.
Những việc không liên quan chỉ thoáng qua trong tâm trí Lý Tất. Cậu nhanh chóng quay lại với tình hình hiện tại. Đúng lúc này, một lính truyền tin vội vã chạy tới trước mặt cậu, dõng dạc thông báo đã có phát hiện mới rồi dâng lên một cuộn giấy, nói rằng các chủ sự vừa tìm được thứ này.
Lý Tất mở ra xem thì phát hiện đó là một cuộn giấy chứng nhận viết tay. Giấy đã ngả vàng, có dấu vết năm tháng. Đó là khế ước của một ngôi nhà thuộc phường An Nghiệp, tên người mua và người bán đều không quen tai. Văn bản này mô tả rõ ràng kết cấu của ngôi nhà sâu sáu tầng sân viện có khu vườn rộng rãi, viết rõ cả các chi tiết về cây cối, kiến trúc, kích thước. Trong đó, còn có cả một đình nghỉ mát kiểu Ba Tư và một tầng hầm nuôi thú cùng nhiều loài cây quý hiếm.
Từ mô tả này, Lý Tất nhanh chóng nhận ra rằng đó chính là ngôi nhà mà Kiến Càng đã đưa mình đến. Không ngờ có thể tìm ra nhanh như vậy!
Phường An Nghiệp… Lý Tất nghiền ngẫm cái tên này, vẻ mặt phức tạp.
Phường An Nghiệp là phường thứ tư thuộc phía tây đại lộ Chu Tước, một trong những khu vực đắc địa nhất thành Trường An, toàn những nhà giàu sang phú quý. Kiến trúc nổi tiếng nhất ở phường An Nghiệp là miếu thờ Trinh Thuận Võ hoàng hậu.
Sinh thời, Trinh Thuận Võ hoàng hậu chính là Võ huệ phi được đương kim thánh thượng sủng ái nhất. Bà qua đời vào năm Khai Nguyên thứ hai mươi lăm, sau khi chết được truy phong danh hiệu hoàng hậu, thụy hiệu Trinh Thuận. Bà là một nhân vật kỳ lạ ở Trường An. Bởi lẽ, bà có một người con trai tên Lý Mạo, lấy vợ tên Dương Ngọc Hoàn, sau này Dương Ngọc Hoàn lại bị chính phụ thân của Lý Mạo cướp mất.
Hơn nữa, giữa bà và Thái tử Lý Hanh cũng có dây dưa nhất định. Để tìm cho con trai Lý Mạo của mình một cơ hội, Võ huệ phi đã âm mưu hại chết Thái tử Lý Hanh. Không ngờ thiên tử lại không để Lý Mạo vào mắt, thay vào đó phong Lý Hanh làm thái tử.
Vì vậy, phường An Nghiệp này luôn là nơi khiến cả Lý Mạo và Lý Hanh có nhiều cảm xúc lẫn lộn. Nếu người phụ nữ này sống thêm vài năm nữa, e rằng vận mệnh của rất nhiều người cũng sẽ thay đổi.
Dẹp chuyện cũ sang một bên, Lý Tất quay lại tập trung vào tờ giấy trên tay, đột nhiên phát hiện ra rằng bên cạnh tên người mua có ghi quê quán ở Lũng Tây. Ánh mắt cậu lóe lên, chợt nhớ ra một chi tiết nhỏ.
Vài năm trước, triều đình từng ban bố lệnh ‘Thụ trạch thôi ân’, trong đó quy định không phải đại thần có công hay vương tôn quý tộc thì không được phép mua bán những căn nhà nằm trong phạm vi bốn phường ở hai bên đại lộ Chu Tước.
Bên cạnh tên người mua ở đây không ghi chức tước gì, cũng không chú thích rõ thuộc gia tộc nào, mà chỉ đơn giản như một thường dân áo vải. Chỉ có một cách để người này có thể mua được nhà ở phường An Nghiệp: là con cháu hoặc tôi tớ của một thế gia nào đó mua thay chủ nhân của mình.
Ngoài đời không thiếu những việc như vậy. Rất nhiều người có thân phận nhạy cảm vừa muốn mua thêm nhà, vừa muốn che giấu thân phận, sẽ để tôi tớ trong nhà đứng ra đại diện. Việc này được gọi là ‘ẩn ký’. Văn bản mua bán này có lẽ cũng chỉ là một văn bản ‘ẩn ký’.
Quê người mua ở Lũng Tây, nên chủ nhân đứng sau người này đương nhiên là một đại gia tộc ở Lũng Tây.
Lý Tất cười lạnh, bàn tay run lên. Lý tướng Lý Lâm Phủ chính là chắt của em họ Đường Cao Tổ, thuộc một chi của dòng họ Lý thị tại Lũng Tây.
Suy đoán này có vẻ không có căn cứ, nhưng đây không phải lúc để thẩm tra vụ án nên không cần bằng chứng thuyết phục. Chỉ cần Lý Tất cảm thấy có một chút liên hệ là đủ rồi.
“Lập tức tập hợp quân Lữ Bôn, ta đích thân dẫn quân đi phường An Nghiệp.” Lý Tất hạ lệnh. Cậu phải đích thân tới đó để xác nhận xem ngôi nhà ấy có đúng là nơi mình từng bị đưa đến hay không.
Quân lính lập tức thi hành mệnh lệnh của ti thừa. Hơn ba mươi người nhanh chóng tập hợp, đồng loạt xông về phía phường An Nghiệp dưới sự chỉ huy của Lý Tất. Nhiều người tinh tế còn nhận ra rằng họ không chỉ mang theo đao, nỏ, mà còn có cả trường cung và khiên sắt.
Hùng hồn như vậy, không biết là đi điều tra vụ án hay đi lâm trận đây?
Phường An Nghiệp cách phường Quảng Đức không quá xa, cả đội tới nơi trong chưa đầy một khắc. Theo như hồ sơ ban nãy thì căn nhà nằm ở góc tây bắc phường, ngay cạnh miếu thờ Trinh Thuận Võ hoàng hậu.
Trong phường lúc này vẫn đèn đuốc sáng trưng, chỉ có điều người ngắm hoa đăng đã vãn bớt. Dẫu sao thì giờ này cũng đã là Chính Mão, mọi người đã lần lượt về nhà ngủ bù sau một đêm chơi bời thỏa thích. Lý Tất dẫn cả đoàn đi thẳng đến trước cửa dinh thự kia. Ngoài cổng lớn không có hàng kích hay ô đầu(*) [Sec-26.xhtml#n79], trông rất đơn giản và khiêm tốn. Nhưng lúc này, một cỗ xe thất hương sang trọng đang đỗ ngay trước cổng, lối trang trí xa hoa thể hiện gu thẩm mỹ bất phàm của chủ nhân.
“Bắt được ông rồi! Lão cáo già!” Lý Tất nhếch mép cười.
Hai binh lính lực lưỡng phá cửa ầm một cái, những người khác lần lượt xông vào. Lý Tất đặc biệt dặn dò không được bất cẩn nên họ vẫn luôn duy trì tư thế tấn công tiêu chuẩn, ba người một nhóm hỗ trợ nhau, lúc nào cũng có hơn chục chiếc nỏ chĩa về mọi hướng.
Họ băng qua tiền viện và trung đình mà không gặp phải bất kì trở ngại nào. Lý Tất bắt đầu sinh nghi, nhưng vẫn tiếp tục tiến về phía trước. Vừa bước vào hậu hoa viên, thứ đầu tiên đập vào mắt cậu chính là một chiếc Tự Vũ đình với tạo hình độc đáo.
Không sai! Chính là nơi này!
Lý Tất siết chặt nắm đấm. Ta đã quay lại rồi đây!
Lúc này, vài người đang đứng dưới Tự Vũ đình. Trong đám người mặc áo người hầu, chỉ duy nhất một người mặc cẩm bào có tròn, đầu đội mũ ô sa(*) [Sec-26.xhtml#n80], đứng chắp tay sau lưng. Đó chính là Lý tướng.
Hai người nhìn nhau chằm chằm, còn chưa kịp nói gì thì tiếng trống đã đột nhiên dồn dập vang lên khắp các đường phố rồi vọng vào đây.
Người dân Trường An đã quá quen thuộc với tiếng trống này. Ngay khi mặt trời lặn, loạt trống này sẽ được gióng lên, đúng ba trăm hồi liên tục, báo hiệu giờ giới nghiêm sắp bắt đầu. Nếu không kịp về nhà trước khi dứt tiếng trống thì buộc phải tìm nơi trọ lại chứ không thể ở ngoài đường, bằng không sẽ bị phạt gậy, thậm chí còn có thể bị khép tội chết.
Lúc này, hồi trống giới nghiêm lại vang lên vào giờ Mão, không chỉ đồng nghĩa với việc đăng hội bị tạm dừng, mà còn có nghĩa là tòa thành Trường An đã bị phong tỏa. Lệnh này cũng sẽ không được gỡ bỏ sau khi mặt trời lên.
----------------------------------------
Tiêu Quy vừa nhắc đến lối đi giáp tường thành, hoàng đế và Trương Tiểu Kính liền lập tức hiểu ra.
Kiến trúc thành Trường An tập trung về hướng bắc. Đi qua Thuận Thiên môn ở phía bắc đại lộ Chu Tước chính là điện Thái Cực, nơi Cao Tổ và Thái Tông từng nghị chính, là trung tâm xoay chuyển của cả đất trời. Sau này, Thái Tông hoàng đế cho xây dựng cung Vĩnh An ở phía đông điện Thái Cực, gọi là ‘Tây nội’ để phân biệt với ‘Đông nội’, sau lại đổi tên thành cung Đại Minh. Đến thời hoàng đế Cao Tông, vì không thích phong thủy của điện Thái Cực nên đã dời đến nghị chính ở cung Đại Minh.
Kể từ đó, các đời hoàng đế nối tiếp nhau bàn việc nước ở cung Đại Minh, quy mô cung điện này nhờ thế mà không ngừng được mở rộng, dần dần hoành tráng như ngày nay. Đến những năm Khai Nguyên, hoàng đế thực hiện thay đổi quy mô lớn, cải tạo cả phường Hưng Khánh ở phía nam cung Đại Minh thành cung Hưng Khánh rồi sinh sống tại đó. Nơi đây cũng được gọi là ‘Nam nội’.
Cung Hưng Khánh nằm khá xa cung Đại Minh nên không thuận tiện cho việc di chuyển qua lại của hoàng đế giữa hai nơi. Vì vậy, vào năm Khai Nguyên thứ mười sáu, người một lần nữa nảy ra một ý tưởng độc đáo, cho xây dựng một lối đi hai bên giáp tường tính từ bức tường phía nam của cung Đại Minh. Lối đi này bắt đầu từ Vọng Tiên môn, chạy về phía đông dọc theo bức tường phía nam, đến khi nối với tường thành phía đông của thành Trường An thì sẽ tiếp tục rẽ xuống hướng nam, chạy qua Thông Hóa môn rồi nối liền với tường vây phía nam của cung Hưng Khánh.
Như vậy, hoàng đế muốn qua lại giữa hai cung có thể sử dụng lối đi giáp tường này mà không lo ảnh hưởng đến dân chúng. Về sau, người cảm thấy cách này thực sự rất tiện lợi, liền mở rộng lối đi về hướng nam, kéo dài đến tận hồ Khúc Giang với tổng chiều dài gần mười sáu dặm. Vậy là hoàng đế có thể du hành khắp thành Trường An, từ cung Đại Minh ở phía bắc đến hồ Khúc Giang ở phía nam, mà không cần rời khỏi cung điện.
Trong một đêm hỗn loạn như đêm nay, tất cả mọi người đều dồn sự chú ý vào tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu, không ai có thể ngờ rằng Kiến Càng sẽ tính được cả lối đi giáp tường thành kia. Tiêu Quy chỉ cần giữ hoàng đế làm con tin, chạy dọc theo tường vây phía nam cung Hưng Khánh này. Đến điểm tiếp giáp với lối đi kép, hắn có thể đường đường chính chính chạy trốn trên con đường thênh thang, đến thẳng hồ Khúc Giang ở phía nam và dễ dàng ra khỏi thành.
Chẳng trách hắn lại nói rằng lối đi này phải ‘cảm tạ ân đức của bệ hạ’. Câu này không sai chút nào. Thiên tử tái mét mặt mày, cảm thấy gã này quá khốn nạn, nhưng trong mắt dường như lại càng thêm phần sợ hãi.
Từ mãnh hỏa lôi trên lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên đến đường nước nối giữa địa cung và Long trì, từ tượng thần Át Lạc Sơn trên nóc tòa Cần Chính Vụ Bản Lâu đến lối đi với tường bao cao ngất, gã này thực sự đã chuẩn bị tốt nhất có thể trước khi ra tay. Một kế hoạch phức tạp như vậy cần suy nghĩ chu toàn và lá gan lớn đến mức nào?
Hơn nữa, kế hoạch này đã thực sự thành công.
Không! Nghiêm túc mà nói thì giờ nó đã rất gần kề thành công, chỉ còn thiếu một bước cuối cùng nữa thôi.
Tiêu Quy hiểu rõ đạo lý mọi việc càng về cuối mới càng khó khăn, nên lúc này, hắn không hề tỏ ra đắc ý. Hắn lệnh cho tên Kiến Càng duy nhất còn lại đỡ Trương Tiểu Kính dậy, còn mình thì đứng sau hoàng đế và Thái Chân, quát nạt họ nhanh chóng bước đi.
“Các ngươi đã thắng rồi, hãy thả nàng đi! Dù sao ngươi cũng không còn nhiều người trong tay.” Hoàng đế nói.
Tiêu Quy thoáng lung lay trước đề nghị này, nhưng Trương Tiểu Kính lại phản đối: “Không được! Thả nàng đi thì chẳng mấy chốc chúng ta sẽ bị cấm vệ quân phát hiện. Chúng mà gióng trống thì lối đi này sẽ bị phong tỏa. Đến lúc đó, chúng ta chẳng khác nào cá trong lưới.” Tiêu Quy nghe vậy cũng cảm thấy có lý, liền đẩy cả Thái Chân đi.
“Ngươi…”
Hoàng đế tức giận nhìn Trương Tiểu Kính. Sau cái chết của tên Kiến Càng ban nãy, ông ta vốn ôm lòng hy vọng với y, nhưng chút hy vọng mong manh ấy lập tức vỡ tan ngay lúc này. Trương Tiểu Kính vờ như không để ý thấy cái nhìn của hoàng đế. Y không hề quan tâm đến an nguy của Thái Chân, mà chỉ nghĩ đến việc tạo thêm gánh nặng cho Tiêu Quy để mình có cơ hội cứu người.
Tiêu Quy nhanh chóng sắp xếp nhiệm vụ áp giải con tin lại một chút, rồi tiếp tục dẫn dắt đội ngũ đã suy giảm đáng kể lên đường. Họ đi dọc một đoạn tường vây về phía đông, chẳng mấy chốc đã nhìn thấy một vết nứt lớn xuất hiện trên bức tường trước mặt. Vết nứt đó ngay hàng thẳng lối, phẳng phiu giống như được một người thợ thủ công lành nghề đục từng chút một rồi kéo dài ra xa.
Một lối đi gồm các bậc thang bằng đá dẫn xuống dưới khe nứt. Họ chậm rãi bước xuống những bậc đá này, cảm giác như lạc vào một thế giới hoàn toàn khác.
Sở dĩ có cái tên ‘lối đi giáp thành’ là bởi đó là một con đường hẹp, bề rộng đủ cho hai cỗ xe ngựa chạy song song, được khoét ra ngay giữa tường vây. Hai bên đường là bức tường gạch xanh cao ngất, mặt đường rải cát sông và lát đá phiến. Độ dày của tường vây có hạn nên lối đi này chỉ có thể rộng chừng ấy.
Ở độ sâu này, mọi ánh sáng và tiếng ồn bên ngoài đều bị chặn lại, tạo ra một chốn u minh tĩnh mịch, yên ắng vô cùng. Tường gạch hai bên cao vút, hơi dốc vào trong, không gian chật hẹp ở giữa như bị kẹp bởi hai ngọn núi. Người đi bộ trong đây sẽ có cảm giác như ngồi trong đáy giếng, ngẩng đầu lên chỉ thấy một dải trời đêm đen kịt phía trên.
Lối đi này không có lính tuần, vô cùng yên tĩnh. Đám người thậm chí còn có thể nghe rõ từng tiếng thở của nhau. Trong hoàn cảnh ấy, mọi người đều cảm thấy thoáng mơ hồ, tựa như trận hỗn loạn vừa rồi chỉ là một giấc mơ đẹp.
Không thể không bội phục trí tưởng tượng của hoàng đế. Không ngờ ông có thể nghĩ ra việc khoét lấy một lối đi u minh thế này giữa hai bờ tường vây cao ngất. Ở đây sẽ không phải lo lắng đến những con mắt tò mò của bách tính, thậm chí còn có thể phóng ngựa như bay. Nếu đi vào ban ngày thì hẳn sẽ thoải mái vô cùng.
Chẳng mấy chốc, họ đã đến đoạn đích của lối đi. Đây hẳn là điểm cuối của bức tường vây quanh cung Hưng Khánh, phía trước sẽ là tường thành phía đông bao ngoài thành Trường An. Nơi đây có một ngã rẽ, chạy về hai hướng nam và bắc.
“Tiêu Quy! Ngươi định đi thế nào?” Trương Tiểu Kính hỏi.
Rẽ về hướng bắc thì sẽ chạy thẳng tới cung Đại Minh, chẳng khác nào chui đầu vào lưới. Rẽ về hướng nam thì sẽ dẫn tới hồ Khúc Giang, là một hướng đi tốt nhưng lộ trình quá dài, ít nhất cũng phải mười dặm. Với tình trạng của nhóm người này, nếu không có ngựa thì e rằng sẽ kiệt sức trước khi đến được hồ.
Dường như Tiêu Quy đã sớm tính toán đến vấn đề này. Hắn chỉ tay về hướng nam. “Đi Khúc Giang.”
Trương Tiểu Kính không hỏi lý do, y biết Tiêu Quy nhất định đã có sắp xếp từ trước. Hắn chuẩn bị chu toàn đến mức cho dù ngay lúc này, hắn có lấy ra một thớt ngựa từ túi áo thì Trương Tiểu Kính cũng không lấy gì làm kinh ngạc.
Đoàn người rẽ về hướng nam, lại tiếp tục đặt chân lên một đoạn đường dài đằng đẵng. Thái Chân đột nhiên ngồi sụp xuống đất, khổ sở van nài rằng mình không thể đi được nữa. Nàng quen ăn ngon mặc đẹp, đi đâu cũng lên xe xuống kiệu, nào có chuyện từng đi bộ xa như vậy? Hoàng đế cúi người hỏi han. Nàng tủi thân cởi đôi giày gấm trên chân xuống, nhẹ nhàng xoa mắt cá chân. Làn da trắng bóc và nõn nà vẫn đặc biệt bắt mắt ngay cả trong màn đêm đen kịt.
Tiêu Quy nghiêm mặt ra lệnh cho nàng đi tiếp. Hoàng đế đứng phắt dậy rồi chắn trước mặt nàng, nhất quyết đòi nghỉ ngơi. Tiêu Quy nói: “Ở đây thêm lúc nào thì càng thêm nguy cơ bị cấm vệ quân chặn lại lúc đó. Nếu ta bị ép đến bước đường cùng thì cả bệ hạ và nàng ta đều không có kết cục tốt đẹp đâu.”
Nghe thấy những lời đe dọa trần trụi này, hoàng đế không còn cách nào khác, chỉ đành giúp Thái Chân đi giày lại. Thái Chân khẽ chau mày, nước mắt lã chã rơi. Hoàng đế đau lòng vuốt ve tấm lưng hồng hào của nàng, nhẹ giọng an ủi, mãi sau tiếng khóc mới dịu dần.
Lúc này, Trương Tiểu Kính bỗng lên tiếng: “Ta cũng nghỉ ngơi được một chút, giờ cũng cố tự đi được. Chi bằng để ta áp giải Thái Chân đi!”
Tiêu Quy nghĩ một lúc, cảm thấy sắp xếp như thế cũng tốt. Thái Chân chỉ là một nữ nhân yếu ớt, mong manh, Trương Tiểu Kính hiện tại có thể để mắt tới nàng ta được. Nếu như vậy thì một người còn lại của Kiến Càng có thể tập trung vào áp giải thiên tử.
Vì vậy, nhóm người tiến hành thực hiện vài điều chỉnh nho nhỏ, trói tay Thái Chân và hoàng đế lại rồi tiếp tục đi về phía trước. Trương Tiểu Kính đi sau Thái Chân. Hai người họ, một người thì yếu đuối và quen được nuông chiều, một người thì kiệt sức nên chẳng thể đi nhanh được, cứ thế tụt lại phía cuối đoàn. Thái Chân bước đi loạng choạng, luôn miệng nhỏ giọng than phiền, còn Trương Tiểu Kính vẫn luôn giữ im lặng.
Lối đi này không phải một con đường thẳng tắp. Cứ chừng hai trăm bộ sẽ có một đoạn được mở rộng ra hai bên, tạo thành một khoảng không rộng rãi gọi là đoạn dẹp đường. Như vậy thì khi xa giá đi qua, tuần binh và tôi tớ dọc đường sẽ có một chỗ để né và dừng lại hành lễ, đồng thời cũng tiện cho các xe tránh nhau. Nhìn từ trên cao xuống, những đoạn dẹp đường điểm xuyết trên lối đi này chẳng khác nào những nút thắt trên sợi dây thừng.
Không biết bao lâu sau, trước mặt nhóm người lại xuất hiện một đoạn tương tự. Tới đây, Tiêu Quy khoát tay ra hiệu dừng lại nghỉ ngơi. Nói xong, hắn một mình tiếp tục đi về phía trước rồi nhanh chóng biến mất trong bóng tối.
Thái Chân chẳng buồn giữ ý, cứ thế ngồi bệt xuống đất. Hoàng đế định tới an ủi nàng nhưng lại bị tên Kiến Càng kia chặn lại. Trước khi rời đi, Tiêu Quy đã dặn không cho phép hai người họ ở quá gần nhau. Hoàng đế cũng hiểu tình thế hiện tại nên không phí công quát mắng đối phương làm gì. Ông ta chỉ hậm hực liếc nhìn Trương Tiểu Kính một cái rồi đi đến phía bên kia đoạn dẹp đường, chắp tay ngẩng đầu nhìn lên khoảng trời tối om.
Trương Tiểu Kính đứng bên cạnh Thái Chân, tựa người vào tường đá, con mắt khép hờ. Y đã tiêu hao quá nhiều sức lực suốt cả ngày hôm nay, giờ cũng phải cố gắng lắm mới nhấc chân đi lại được. Y buộc phải tranh thủ từng chút thời gian một để lấy lại sức càng sớm càng tốt, chuẩn bị sẵn sàng cho trận chiến có thể xảy ra sắp tới.
Giọng nữ nhân bỗng nhẹ nhàng vang lên bên tai y: “Trương Tiểu Kính! Thực ra ngươi là một người tốt, ngươi sẽ cứu chúng ta, phải không?”
Trương Tiểu Kính giật mình mở bừng mắt, chỉ thấy Thái Chân đã hiếu kỳ ngước khuôn mặt tròn trịa lên, đôi mắt ngấn lệ. Tay phải nàng vẫn đang xoa bóp mắt cá chân. Tên Kiến Càng đứng bên kia vẫn liếc mắt sang quan sát nhưng không chút nghi ngờ.
“Tại sao lại nói thế?” Trương Tiểu Kính cố gắng đè thấp giọng, hỏi ngược lại.
“Ta tin Đàn Kỳ.”
Trương Tiểu Kính ngẩn ra, sau đó khẽ gật đầu. “Đó là một cô nương lãnh đạm, thông minh. Có điều ngươi tin cô ấy thì liên quan gì tới ta?”
Thái Chân cười cười. “Người đàn ông Đàn Kỳ thích sẽ không là người xấu.”
“À…”
“Nhưng ta nhìn ra giữa ngươi và Đàn Kỳ không có gì cả. Ta đã từng thấy quá nhiều cô nương say đắm trong tình yêu, và cả nam nhân nữa. Cô ấy thì có, còn ngươi thì không.”
Trương Tiểu Kính thoáng lúng túng. Lúc này là lúc nào rồi mà nàng ta vẫn có hứng thú nói tới chủ đề ấy. Thấy kẻ hung thần trước mặt bỗng có vẻ ngượng ngùng, Thái Chân không khỏi mỉm cười.
“Ta biết ngay là ngươi có mục đích của mình nên mới làm như thế.”
“Vì vậy, biểu hiện ban nãy của cô là diễn kịch để Kiến Càng buông lỏng cảnh giác?” Trương Tiểu Kính hỏi ngược lại.
“Không! Kể từ khi trượt từ mái nhà xuống, cả người ta quả thực như sụp đổ đến nơi. Nhưng so với việc sắp mất đi cuộc sống giàu sang phú quý, ta thà trượt đi trượt lại mười lần như thế.” Thái Chân mỉm cười tự giễu. “Ta là một đạo cô bỏ chồng, nếu đánh mất cả sự sủng ái của hoàng đế thì ta chẳng còn gì nữa. Chính vì vậy, ta phải nắm lấy mọi cơ hội để thiên tử và ta được sống sót.”
Thái Chân chậm rãi quay đầu, dõi mắt về phía màn đêm vô tận phía trước. “Đàn Kỳ từng nhờ ta giúp đỡ để cứu mạng ngươi. Giờ đây, ta cũng chỉ có thể hy vọng ngươi có thể trả mối ân tình ấy.” Nói tới đây, gương mặt Thái Chân tỏ rõ vẻ kiên định, khác hoàn toàn với người phụ nữ nhu nhược, yếu đuối ban nãy. Con mắt độc nhất của Trương Tiểu Kính nhìn nàng chăm chú, ánh mắt dần trở nên nghiêm túc.
“Được rồi! Cô đoán đúng. Ta đến để cứu người.” Trương Tiểu Kính cuối cùng cũng thừa nhận.
Thái Chân thở phào nhẹ nhõm, đưa ngón tay lên khẽ lau nước mắt: “Tốt quá! Thánh nhân nhất định sẽ vui lắm nếu biết có một vị trung thần thế này.”
“Trung thần?” Trương Tiểu Kính cười khẩy. “Ta không phải trung thần, cũng không tới đây để tận trung với thiên tử. Ta không hề hứng thú với mấy việc đó.”
Câu trả lời này khiến Thái Chân rất kinh ngạc. Không vì tận trung với hoàng đế? Vậy rốt cuộc y làm những việc này vì cái gì? Thái Chân còn định hỏi thêm gì đó, nhưng đúng lúc tên Kiến Càng kia dạo vòng qua phía họ nên cả hai người đồng thời ngậm miệng, quay mặt đi.
Tên Kiến Càng chỉ liếc nhìn họ một cái rồi lại quay về vị trí cũ. Hoàng đế vẫn đang bị trói tay sau lưng, Tiêu Quy thì chưa quay lại. Tiếc là dù chỉ có một tên Kiến Càng này, nhưng Trương Tiểu Kính vẫn không thể đánh bại được hắn. Hiện tại, y yếu đến mức đi đường và nói chuyện cũng thở dốc chứ đừng nói đến việc đánh nhau.
Trước những lời bất ngờ của Thái Chân, Trương Tiểu Kính nhận thấy mình bắt buộc phải điều chỉnh lại kế hoạch một chút. Y vốn dĩ chỉ coi nàng như một bình hoa di động có thể gây thêm rắc rối cho Tiêu Quy, nhưng hóa ra nàng bình tĩnh hơn y tưởng nhiều, không chừng có thể giúp ích được gì đó.
Y nhìn về phía trước một cái, rồi lại quay đầu nhìn Thái Chân, thấp giọng bảo: “Sau đây, ta cần cô làm một việc.”
“Ta không biết đánh đấm, đó là việc ta kém nhất…” Thái Chân nói.
“Không cần! Điều ta muốn cô làm là điều mà cô không thích nhất.”
Không lâu sau, Tiêu Quy quay lại từ màn đêm, vẻ mặt vui mừng. Hắn ra hiệu cho mọi người lên đường. Thế là cả nhóm lại tiếp tục đi dọc theo lối đi về phía nam.
Lần này, mới đi được một lát, Tiêu Quy đã yêu cầu tất cả dừng lại. Phía trước là một đoạn dẹp đường khác, nhưng lại có thêm một bậc cầu thang gạch kéo dài lên trên phía bên trái. Những bậc thang ấy nhất định dẫn đến tường bao thành phía đông.
Lối đi này không thể đóng kín từ đầu đến cuối, mà sẽ chừa lại một số cầu thang lên xuống tường thành để vận chuyển vật tư hoặc đối phó với các tình huống khẩn cấp. Vừa rồi, Tiêu Quy đi trước để kiểm tra xem nơi đây có người canh gác hay không.
Bình thường đều có lính gác ở lối vào để ngăn cản những kẻ không quan thâm nhập. Nhưng hôm nay, những binh lính ở đây đều bị kéo đi hết đến xử lý vụ việc ở cung Hưng Khánh nên nơi đây không một bóng người.
Tiêu Quy phất tay. Mọi người rời khỏi lối đi, chậm rãi leo lên cầu thang dẫn lên đầu tường thành. Vừa lên đến nơi, không khí xung quanh lập tức trở nên huyên náo hẳn, kéo họ quay về Trường An ở hiện thực.
Trương Tiểu Kính nhìn xung quanh, thành lũy cao cao ngăn cách Trường An thành hai thế giới riêng biệt, phía bên trong vẫn đèn đuốc sáng trưng, trong khi bên ngoài lại tối đen như mực. Y nheo mắt, thấy một cổng thành cao cao ở phía nam, hẳn là Diên Hưng môn. Với khoảng cách này, có lẽ hiện tại bọn họ đang đứng trên tường thành ở ngay phường Tĩnh Cung.
Phường Tĩnh Cung ư? Trương Tiểu Kính thoáng cười khổ. Từ độ cao trước mắt, y có thể nhìn thấy một khoảng rộng đen thui trong phường, đó chính là sân mã cầu. Chỉ vài tháng trước, y còn uy hiếp Vĩnh vương ở chính trong sân bóng đó, cuối cùng còn buông bỏ vũ khí rồi trở thành một tù nhân, tự viết nên cái kết cho chính mình, hoặc cũng có thể là một khởi đầu khác.
Không ngờ hôm nay, y lại vòng một vòng về chính nơi mọi thứ bắt đầu này. Trương Tiểu Kính như nhìn thấy bánh xe tạo hóa ở một chốn u minh nào đó đang lặng lẽ xoay vần, chẳng khác nào lầu đèn Thái Thượng Huyền Nguyên.
“Chúng ta sẽ xuống từ đây.”
Giọng Tiêu Quy chợt vang lên, phá vỡ dòng cảm xúc của Trương Tiểu Kính. Hắn bước ra rìa tường thành, vỗ nhẹ vào khung gỗ nom như giá ròng rọc kéo nước ở miệng giếng. Kết cấu của khung gỗ này chắc chắn hơn nhiều so với ròng rọc bình thường, được cuốn hơn chục vòng dây thừng to, dày, cùng với thanh ngang chĩa ra phía ngoài tường thành có treo lơ lửng một chiếc sọt mây. Gần đó, sát rìa tường cắm một lá cờ hiệu, nhưng vì đang không có gió nên lá cờ khẽ rủ xuống cán.
Luật lệ trong thành Trường An rất nghiêm khắc. Ban đêm, tất cả các cổng thành phải đóng chặt, không có chiếu chỉ của hoàng đế thì không được phép mở ra. Vì vậy, trong trường hợp có việc khẩn cấp vào giữa đêm, bắt buộc phải ra hoặc vào thành, thì quân phòng thủ có một giải pháp linh hoạt. Đó là lắp đặt một hệ thống ròng rọc trên tường thành, treo một giỏ mây thật lớn ở đầu ròng rọc, người hoặc ngựa đứng vào đó có thể được kéo lên và hạ xuống.
Đây chính là bước cuối cùng trong kế hoạch của Tiêu Quy; dùng ròng rọc để đưa tất cả mọi người ra ngoài thành. Lúc này đang là thời điểm tối nhất trước rạng đông, cộng với tình hình hỗn loạn trong thành, sẽ không có ai chú ý đến đoạn thường thành kín đáo này. Kiến Càng có thể ung dung rời khỏi thiên la địa võng trong thành Trường An, sau đó thoải mái đi đâu tùy thích.
Mắt thấy chỉ còn cách thành công một bước cuối cùng, ngay cả Tiêu Quy cũng không nén nổi hưng phấn. Hắn mỉm cười với hoàng đế. “Bệ hạ! Hãy tranh thủ nhìn Trường An của người lần nữa đi! Sau này chỉ sợ là không có cơ hội nhìn thấy nữa đâu.”
Thiên tử hừ lạnh một tiếng, chắp tay sau lưng, không hé răng nửa lời. Ông biết có nói gì với tên khốn hung ác này cũng chỉ tổ chuốc thêm nhục nhã mà thôi.
Tiêu Quy và Trương Tiểu Kính phụ trách để mắt tới hai con tin, trong khi tên Kiến Càng duy nhất còn lại bắt đầu cởi dây thừng khỏi ròng rọc. Hắn lần lượt tháo từng vòng dây thừng ra, sau đó móc vào đầu chiếc giỏ mây lớn.
Giá gỗ này phải có khả năng treo được một người một ngựa, nên đương nhiên giỏ mây cũng vô cùng chắc chắn. Để giữ thăng bằng và tránh bị lật, bốn phía giỏ mây còn được buộc dây thừng rồi kết lại thành một bó chắc chắn phía trên, sau đó mới nối với dây kéo trên ròng rọc. Việc kết rồi nối những sợi dây này lại với nhau là một việc đòi hỏi kỹ thuật khéo léo, nếu không giỏ mây sẽ rất dễ bị lật ngửa giữa chừng và có thể gây ra thiệt hại về người.
Sau một hồi vật lộn đến nỗi mồ hôi đầm đìa, tên Kiến Càng kia cuối cùng cũng có thể điều chỉnh được thăng bằng cho chiếc giỏ mây. Giờ chỉ cần thả lỏng ròng rọc là có thể đưa người xuống.
Vấn đề tiếp theo là nhân lực.
Giỏ mây cần được hạ xuống từ từ, vậy nên cần ít nhất hai người khỏe mạnh xoay ròng rọc phía trên. Nếu Tiêu Quy và tên Kiến Càng còn lại làm việc này, thì sẽ chỉ còn Trương Tiểu Kính kiệt sức canh chừng hai con tin.
Tiêu Quy không chút do dự tiến lại gần hoàng đế, bất ngờ vung chuôi đao đập vào cổ ông ta. Thiên tử chỉ kịp chớp mắt một cái rồi lập tức ngã nhào xuống bất tỉnh. Trước đó hắn chưa ra tay là vì để hoàng đế tỉnh táo sẽ có lợi hơn cho việc chạy trốn khỏi Cần Chính Vụ Bản Lâu. Nhưng giờ đây, bọn họ sắp ra khỏi thành đến nơi nên không cần phải băn khoăn đến việc đó nữa.
Thái Chân thấy vậy, tưởng hoàng đế bị sát hại thì không kìm được hét lên một tiếng thất thanh, run rẩy ngồi sụp xuống. Tiêu Quy lạnh lùng liếc nhìn nàng ta một cái rồi lệnh cho tên Kiến Càng: “Cũng đánh ngất nàng ta đi.”
Hắn biết rằng Trương Tiểu Kính đang rất yếu, nếu phải ra tay thì sẽ không kiểm soát được lực nên mới lệnh cho tên kia làm việc này. Đối phương ‘vâng’ một tiếng rồi đi tới, định đánh ngất Thái Chân, không ngờ Trương Tiểu Kính lại nói: “Cứ cho nàng ta vào giỏ trước rồi hãy đánh ngất sau.” Tên kia ngây ra một lúc rồi nhanh chóng hiểu ý y.
Làm vậy cũng tốt, có thể đỡ tốn công khiêng nàng ta vào. Vì vậy, tên Kiến Càng lập tức túm lấy cánh tay Thái Chân, lôi xềnh xệch đến rìa tường thành rồi tống thẳng vào trong giỏ mây. Thái Chân co ro trong đáy giỏ, thở không ra hơi, ngay cả cây trâm ngọc trên đầu cũng run lên.
Tên Kiến Càng vào theo nàng. Hắn đưa tay ra, định nhéo cổ nàng, thầm nghĩ liệu một chưởng có đánh gãy cần có mảnh khảnh trắng hóng này không. Không ngờ Thái Chân vừa thấy hắn ta vươn tay ra thì sợ hãi, vội vàng né sang một bên, khiến cho chiếc giỏ mây đang treo lơ lửng trong không trung lắc lư dữ dội.
Tên Kiến Càng nhất thời mất thăng bằng, không đứng vững được, vội vàng bám vào thành giỏ rồi quát lớn: “Ngươi muốn chết à?”
Không ngờ lời quát mắng này lại phản tác dụng. Thái Chân chẳng những không dừng lại mà còn ra sức trốn tránh hơn, vừa né tránh, nước mắt vừa lã chã tuôn rơi. Tên Kiến Càng phát hiện dường như nàng ta đang cố ý thì không khỏi nổi điên lên, hùng hổ xông tới, bụng bảo dạ nhất định phải dạy dỗ con đàn bà kia một bài học ra trò.
Hắn cứ thế lao lên khiến giỏ mây càng lắc lư dữ dội. Để tránh hắn, Thái Chân lại càng lùi về sau. Đột nhiên, nàng hét lên một tiếng thất thanh. Dường như nàng ta vừa mất thăng bằng, cánh tay phải hất lên cao như chới với sắp ngã nhào ra ngoài.
Tên Kiến Càng cuống cuồng túm lấy ống tay áo nàng, chỉ mong có thể kéo nàng ta lại. Nhưng khoảnh khắc nắm được tay áo ấy, hắn lập tức nhận ra có gì đó không ổn.
Thái Chân tuy có thân phận đạo cô nhưng dù sao cũng đang tu hành trong cung điện, nên trang phục của nàng cũng khác những người tu đạo thông thường. Hôm nay là tết Thượng Nguyên, ngoài áo đạo sĩ, nàng còn khoác thêm một dải sa mỏng trắng ngần. Dải sa này vòng qua cổ, che đi phần vai và khuỷu tay, phần đầu được kẹp giữa các ngón tay tạo vẻ dịu dàng, quý phái.
Vừa rồi, Thái Chân đã lặng lẽ điều chỉnh lại dải sa này, để cả dải sa cuốn quanh cánh tay phải thay vì vòng qua cổ, trong khi phần đầu dải sa được thả lỏng tự do, nên nhìn dễ nhầm lẫn với cánh tay áo. Cách khoác này được gọi là ‘giả khoác’, thường được sử dụng trong những tình huống riêng tư, gặp gỡ bạn bè thân thiết.
Tên Kiến Càng kia làm sao biết được quy tắc của đám nữ nhân quý tộc này, hắn tưởng rằng mình túm được tay áo nhưng thực chất lại chỉ là một dải vải quấn hờ quanh tay. Dải vải vừa bị kéo liền tụt khỏi cánh tay, trong khi tên Kiến Càng đang ra sức thật mạnh, định bụng kéo Thái Chân lại. Kết quả, hắn ta kéo hụt một cái, cả người ngã ngửa ra sau và rơi ra khỏi giỏ.
May là hắn xuất thân quân ngũ, phản ứng nhanh nhạy, nên dù đã bị rơi ra ngoài nhưng hai tay vẫn bám được vào thành giỏ. Hắn chưa kịp định thần, đang định trèo ngược vào trong thì đột nhiên cảm thấy ngón tay đau nhói.
Hóa ra, không biết Thái Chân lấy đâu ra dũng khí, rút ra một con dao cán ngà từ trong ngực áo rồi nhắm mắt nhắm mũi đâm thật mạnh vào tay hắn. Con dao này vốn được hoàng đế sử dụng, sau đó bị Trương Tiểu Kính lấy đi, để rồi hiện tại lại nằm trong tay nàng.
Tên Kiến Càng không dám buông tay nhưng cũng không thể chống trả, chỉ còn cách liều mình bám trụ ngoài giỏ mây. Một cựu binh không có vũ khí trong tay cùng một người đẹp khuynh quốc khuynh thành nơi cung cấm cứ thế giằng co trong một cuộc đấu tay đôi kỳ lạ, giữa hai bên của một chiếc giỏ mây đang lắc lư trên không trung.
Nhưng dù sao Thái Chân cũng không có kinh nghiệm chiến đấu, nàng không biết đâu là chỗ trí mạng, chỉ biết nhắm mắt đâm bừa. Kết quả là dù tên Kiến Càng kia thương tích đầy mình nhưng không vết thương nào đáng ngại. Bản thân hắn cũng nhận ra điều này và biết rằng vẫn còn cơ hội phản kích, nên cắn răng chịu đựng cơn đau rồi đưa tay lên túm bừa. Hắn vô tình túm được mái tóc dài tán loạn của Thái Chân, liền giật thật mạnh không chút thương hoa tiếc ngọc. Thái Chân lập tức cảm thấy da đầu đau điếng, cả người bị giật mạnh về phía trước. Tên Kiến Càng nhân cơ hội vung một cú đấm vào đúng thái dương nàng.
Thái Chân chưa từng khổ sở đến thế. Nàng chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi nhẹ nhàng ngã xuống đáy giỏ, ngất lịm đi.
Tên Kiến Càng giận dữ bò lại vào bên trong, chỉ nghĩ nhất định phải dạy cho ả đàn bà này một bài học nhớ đời. Nhưng đúng lúc ấy, trên đầu hắn bỗng nhiên vang lên một loạt những âm thanh kỳ lạ rất nhỏ. Hắn ngẩng phắt đầu lên, thấy sợi dây thừng ở một bên giỏ mây đã bị đứt. Đó có lẽ là sợi dây Thái Chân vô tình cắt trúng khi vung dao loạn xạ vừa rồi.
Hắn lập tức biến sắc, ba chân bốn cẳng lổm ngổm bò vào bên trong nhưng đáng tiếc là đã quá muộn. Chiếc giỏ mây mất đi một phần tư lực kéo bỗng nghiêng về phía bên kia. Tên Kiến Càng chỉ kịp hét lên một tiếng, hai tay không cố được nữa, cả người cứ thế ngã nhào xuống.
Tiếng hét thảm thiết còn chưa hết vang vọng thì giữa không trung lại đột nhiên vang lên một tiếng rắc giòn giã khác.
Hóa ra, trận giằng co vừa rồi giữa Thái Chân và tên Kiến Càng đã biến sợi dây thừng gần giỏ mây thành một bó dây rối. Lúc tên kia ngã xuống, cổ hắn vô tình lọt trúng vào một đoạn dây thòng lọng. Tiếng rắc ban nãy chính là tiếng cổ gãy khi cơ thể bất ngờ rơi xuống.
Chiếc giỏ mây vẫn đung đưa giữa không trung, Thái Chân xụi lơ trong góc giỏ, bất tỉnh. Phía dưới giỏ, tên Kiến Càng cuối cùng đang rũ đầu, hai mắt lồi ra, cơ thể treo lơ lửng trên sợi dây thừng, lắc lư qua lại trong bóng tối.
Chuyện vừa rồi xảy ra quá nhanh, khiến Tiêu Quy đứng cạnh ròng rọc không kịp phản ứng. Mãi đến khi tên Kiến Càng cuối cùng kêu lên một tiếng thảm thiết, hắn mới nhận ra có gì đó không đúng, vội vàng chạy ra bờ tường và nhoài người nhìn về phía giỏ mây.
Thấy thuộc hạ cuối cùng của mình đã chết, Tiêu Quy lập tức nổi điên. Hắn hung dữ nhìn về phía Thái Chân đang nằm trong giỏ, thứ đầu tiên đập vào mắt hắn là con dao nhỏ cán ngà mà nàng ta đang siết chặt trong tay.
Đồng tử Tiêu Quy đột nhiên co rút lại. Hắn nhớ rằng con dao này vốn được hoàng đế giắt bên hông, nhưng đã bị Trương Tiểu Kính đoạt được lúc ở Trích Tinh điện, sao bây giờ lại rơi vào tay nàng ta? Không cần nghĩ cũng biết điều này có nghĩa là gì.
Một luồng khí dị thường ập đến từ phía sau tai Tiêu Quy. Hắn vội vàng quay đầu lại, chỉ thấy một bóng đen đang nhào tới với tất cả chút sức lực cuối cùng, hất hắn ra ngoài tường thành. Trong lúc cấp bách, Tiêu Quy chỉ kịp xoay người, áp lưng vào cán cờ gần ròng rọc để làm chỗ dựa tạm thời.
Nhờ chút ít thời gian ngắn ngủi giành giật được, hắn đã nhìn rõ đối phương chính là người đồng đội cũ, Trương đại đầu.
“Đại đầu! Ngươi…” Tiêu Quy hét lên, chỉ thấy đối phương sầm mặt, không nói một lời. Y không còn sức lực chiến đấu nên chỉ đành quyết tâm cùng lôi đối phương vào chỗ chết, lấy thân mình làm vũ khí. Đây là lựa chọn duy nhất của y.
Cột cờ chỉ chống cự được chưa đầy một cái búng tay, trước khi kêu rắc một tiếng rồi gãy làm đôi. Hai người đàn ông cùng lá cờ lao xuống giữa không trung từ bức tường phía đông thành Trường An. Lá cờ lớn đột nhiên bung ra trong gió, cuốn lấy bóng dáng hai người rơi ra xa xa ngoài thành giống hệt năm xưa. Cùng lúc đó, tia nắng ban mai đầu tiên ló dạng nơi chân trời phía đông. Tia sáng mong manh chiếu về phía thành Trường An, chiếu lên bóng hai người vừa rơi ra khỏi màn đêm u tối.
Tiếng trống trên đường phổ cũng gióng lên dồn dập, vang dội khắp thành.