CHÍNH THÌN[8 GIỜ SÁNG]
Lúc này, mặt trời đang từ từ ló dạng ở phía đông. Trời dần sáng, cả Di Hương các bắt đầu ngào ngạt hương thơm.
Chính Thìn, ngày 15 tháng Giêng năm Thiên Bảo 3.
Phường Hưng Hóa, huyện Trường An, thành Trường An.
Trong ti Tĩnh An, lính truyền tin là một nhân vật vừa đặc biệt vừa đầy mâu thuẫn.
Người này có mặt ở khắp mọi nơi trong ti, không ai là không biết mặt. Mọi người đều từng nhìn thấy bóng dáng hắn chạy hớt hải, ai nấy đều quen thuộc với tiếng hô sang sảng của hắn. Một người thường xuyên ra vào đại điện, thường xuyên thông báo những tin tức quan trọng. Biết bao tin tức trong thành Trường An đều phải đi qua hắn trước khi được chuyển tới các chủ sự, biết bao nhiêu quyết định cũng phải qua tay hắn mới được truyền đi khắp các vọng lâu.
Nhưng điều kỳ lạ là không ai để ý đến sự tồn tại của hắn, thậm chí còn không biết tên hắn. Mọi người đều coi hắn như một sự tồn tại đương nhiên, như một con ve nằm trên cành cây giữa núi Chung Nam vào mùa hè. Ve càng kêu, rừng càng tĩnh. Sẽ không ai đặc biệt chú ý đến một lính truyền tin như vậy.
Vậy mà kẻ này hóa ra lại chính là nội gián do Kiến Càng cài cắm vào.
Thoạt nghe có vẻ đáng sợ, nhưng nghĩ kĩ lại sẽ thấy việc này không thể hợp lý hơn. Có thể thường xuyên qua lại khắp nơi trong ti Tĩnh An, có thể nắm bắt được những động thái và quyết sách sớm nhất nhưng lại không khiến người khác chú ý. Không phải hắn thì còn có thể là ai nữa?
Một điểm mù trong nhận thức đã khéo léo che mắt tất cả mọi người. Trong khi tất cả bọn họ đều đang cắm đầu cắm cổ tìm kiếm ở tận nơi xa xôi nào đó, thì tên nội gián lại đang đứng trong bóng tối, ngay dưới chân đèn và mỉm cười khinh bỉ.
Triệu tham quân nhìn tên lính truyền tin đang nằm hấp hối trên mặt đất, vẻ mặt nghiêm trọng. Hắn không phải là người của ti Tĩnh An nhưng cũng hiểu rõ rằng người trước mặt không hề đơn giản và không thể để xảy ra bất kì sai sót nào. Bắt được nội gián không có nghĩa là việc lớn đã thành. Tên này nhất định chưa phải là điểm cuối cùng, việc tìm ra chủ mưu đứng sau mới là ưu tiên hàng đầu.
Phải nhanh chóng dẫn tên này về Kinh Triệu phủ mới được!
Cánh tay Diêu Nhữ Năng vẫn ôm khư khư cơ thể tên lính truyền tin giống như đai sắt. Triệu tham quân hạ lệnh tách hai người bọn họ ra. Mấy người lính cường tráng thi nhau ra sức, khó khăn lắm mới tách được mười đầu ngón tay, chứng tỏ Diêu Nhữ Năng trước khi hôn mê đã dùng lực rất mạnh.
Đám lính ba chân bốn cẳng trói tên lính truyền tin lại, dùng dây vài ghì chặt miệng hắn rồi lấy cáng khiêng về Kinh Triệu phủ. Triệu tham quân liếc nhìn Diêu Nhữ Năng bị trọng thương đang nằm sõng soài trên mặt đất, không nén nối buông một tiếng thở dài.
Vết thương trên lưng Diêu Nhữ Năng nhìn rất tệ, cho dù cậu có tỉnh lại thì cũng sẽ bị liệt. Một chàng trai trẻ nhiệt huyết như vậy đáng ra sẽ có tiền đồ vô lượng, nhưng chỉ tiếc rằng đành đứt đoạn ở đây. Bản thân hắn từng bị cậu uy hiếp ở Hữu Kiêu vệ, lúc này cũng không khỏi âm thầm khen ngợi cậu một câu. Nếu không nhờ Diêu Nhữ Năng liều mình, không ngại hy sinh thì có lẽ tên nội gián kia đã thuận lợi trốn thoát.
Triệu tham quân chỉ không hiểu tại sao cậu lại liều mạng tới vậy. Bổng lộc ở ti Tĩnh An cao đến thế ư? Nhắc mới nhớ, những người ở ti Tĩnh An hắn gặp phải hôm nay đều quái lạ. Từ Diêu Nhữ Năng, Lý Tất, Trương Tiểu Kính đến cả cô nương kia, ai nấy đều không bình thường.
Triệu tham quân lắc đầu, nhanh chóng tập trung tinh thần, ra lệnh lấy cáng đưa Diêu Nhữ Năng đi chữa trị. Sau đó, nghĩ ngợi một lúc, hắn lại phái một người khác nhanh chóng truyền tin đã tóm được nội gián đến phường An Nghiệp. Hắn biết Lý Tất đang ở đó, tin tức này phải được báo cho cậu càng sớm càng tốt.
Sau khi sắp xếp xong xuôi, Triệu tham quân mới có thời gian ngước nhìn lên bầu trời. Lúc này, những tia nắng ban mai càng lúc càng chói chang, bầu trời đen kịt đã nhường chỗ cho một màu xanh trong vời vợi. Ngày 15 tháng Giêng đã đến. Thành Trường An huyên náo suốt một đêm lại chuẩn bị đắm mình trong ánh mặt trời.
Nhưng không hiểu tại sao, Triệu tham quân chỉ cảm thấy lòng mình nặng trĩu, không dễ chịu hay thoải mái chút nào.
----------------------------------------
Văn Nhiễm vỗ vỗ tay, phủi đi chút tàn hương cuối cùng còn dính lại, sau đó cẩn thận đặt cây nhang mới ép vào ống tre rỗng rồi cất vào túi bên hông. Sầm Tham đứng sau lưng cô, hỏi với vẻ mặt nghiêm túc: “Văn Nhiễm cô nương! Cô nhất quyết muốn làm thế sao?”
Văn Nhiễm cung kính thắp một nén Giáng Thần hương trước bài vị của Trương Tiểu Kính, thấy làn khói vấn vít bốc lên mới từ từ đáp: “Đúng vậy! Ta nghĩ kĩ rồi!”
“Khó khăn lắm cô mới thoát được, nên chịu khó nghỉ ngơi một chút.” Sầm Tham khuyên nhủ.
Kể từ sáng hôm qua, cô gái này vẫn chưa được giải phóng khỏi gian khổ một khắc nào. Hết bị bang Hùng Hỏa bắt cóc lại bị giam ở ti Tĩnh An, Sơ Hợi còn náo loạn một trận ở chùa Từ Bi, đúng là liên tiếp hết khó khăn này đến khó khăn khác. Những cô gái bình thường có lẽ đã sớm sụp đổ rồi.
Mặt mũi Văn Nhiễm hốc hác, nhưng cô vẫn bướng bỉnh lắc đầu. Sầm Tham thở dài, biết rằng không thể khuyên nhủ thêm được nữa.
Từ đầu giờ Hợi, Sầm Tham đã làm theo lời Văn Nhiễm dặn dò, chạy thẳng đến tiệm hương Văn Ký, thu bảng hiệu và lấy bài vị của Trương Tiểu Kính. Đúng lúc hắn đang định đốt hai thứ này thì bất ngờ thấy Văn Nhiễm quay lại.
Sau khi hỏi han, hắn mới biết cô vô tình được Vương Uẩn Tú bảo vệ nên mới thoát khỏi Nguyên Tái. Tuy nhiên, cô không ở lại Vương phủ mà vội vàng quay về tiệm hương. Sầm Tham đang định chúc mừng cô may mắn thoát nạn thì lại thấy mặt mày cô ủ rũ. Từ những gì nghe được ở ti Tĩnh An, cô phát hiện ra rằng ân công của mình đang chìm trong một đống rắc rối.
Sầm Tham tưởng rằng cô sẽ òa khóc nức nở, nhưng không ngờ cô lại nảy ra một ý tưởng kỳ lạ: Phong Đại Luân là nguồn gốc của mọi rắc rồi, chỉ cần tóm được hắn thì có thể rửa oan cho ân công.
Ý tưởng này dọa Sầm Tham giật nảy mình. Sau khi nghe xong kế hoạch của Văn Nhiễm, hắn càng thêm choáng váng. Không ngờ cơ thể nhỏ bé, mềm yếu ấy lại ẩn chứa tính cách quật cường đến vậy. Nhưng chỉ cần nghĩ kĩ hơn sẽ thấy, nếu cô không kiên trì, quyết không bỏ cuộc như vậy thì đã sớm chờ chết trong tay Nguyên Tái hoặc bang Hùng Hỏa rồi. Cô gái này có vẻ ngoài yếu đuối nhưng ẩn trong xương cốt lại rất quật cường, đó có lẽ là phong cách được truyền lại từ cha cô.
“Ân công của ta đã hy sinh rất nhiều cho Văn gia. Nếu ngài ấy chết, ta đương nhiên sẽ hương khói quanh năm, vĩnh viễn không quên. Nhưng giờ, nếu vẫn còn một tia hy vọng mà ta lại sợ hãi khoanh tay đứng nhìn, thì đến khi chết còn mặt mũi nào gặp phụ thân nữa?” Văn Nhiễm kiên định nói.
“Nhưng nếu uy hiếp Phong Đại Luân thì cũng chưa chắc sẽ cứu được ân công cô.”
“Tất cả những gì mà ta có thể làm chỉ có vậy.” Văn Nhiễm đáp rồi giương nắm tay phải đấm vào vai trái. Sầm Tham hỏi cô hành động đó có nghĩa là gì. Văn Nhiễm nói đó là một nghi thức được cha minh là Văn Vô Kỵ dạy cho, nghĩa là ‘có chết không hối’.
Sầm Tham vốn tính hào sảng, sau một hồi suy nghĩ, hắn quyết định tự nguyện giúp cô hoàn thành việc nghĩa này. Một sĩ tử chờ khảo thí mà dám bắt cóc quan chức triều đình, đây đúng là đại tội! Nhưng Sầm Tham không quan tâm. Việc này thú vị đến mức đáng được chấp bút thành tuyệt tác lưu danh thiên cổ.
Hắn thậm chí còn gần như nghĩ ra tựa để cho bài thơ đó rồi.
----------------------------------------
Thành môn lang ở Diên Hưng môn đang trong trạng thái bất an và lo lắng.
Ban đầu, hắn nhìn thấy, nghe thấy làn khói dày đặc và tiếng nổ vang rền từ phía cung Hưng Khánh. Nhưng vì đang trong giờ trực ban, hắn không dám rời đi khi chưa được phép, chỉ có thể thấp thỏm đợi lệnh của cấp trên. Đợi mãi, đợi mãi, cuối cùng hắn nhận được một văn kiện hỏa tốc từ thành môn giám, yêu cầu phải kiểm tra nghiêm ngặt những người rời khỏi thành. Hắn còn chưa bắt tay thực thi mệnh lệnh thì đột nhiên lại nghe thấy tiếng trống đường dồn dập. Theo quy định, gióng trống sáu trăm lần mới đóng cổng thành. Nhưng ngay sau đó, một mệnh lệnh khác của Kinh Triệu phủ lại được vọng lâu truyền tới, yêu cầu lập tức đóng cổng, không cho ai ra vào.
Những mệnh lệnh này về cơ bản đều giống nhau, chỉ có điều lệnh sau gấp rút hơn lệnh trước. Nhưng thành môn lang biết đó là những mệnh lệnh đến từ các cơ quan khác nhau, điều này có nghĩa là cả thành Trường An đã rơi vào hỗn loạn, không ai cầm trịch và mỗi đơn vị phải hành động theo phán đoán của riêng mình.
Tết Thượng Nguyên còn chưa hết một ngày mà đã loạn đến mức này, không hiểu mấy cơ quan trong thành làm ăn kiểu gì? Thành môn lang oán thầm vài câu rồi lấy áo giáp Sơn Văn trên giá xuống, mặc lên người. Từng mảnh giáp hình chữ ‘sơn’ va vào nhau kêu leng keng. Vào những lúc bất thường, quan võ bắt buộc phải mặc giáp nên hắn cũng không dám lơ là.
Sau khi mặc xong áo giáp, thành môn lang lóng ngóng đi ra khỏi phòng trực, tức giận quát tháo lính canh mau chóng đóng cổng lại. Tên tùy tùng đi cạnh hắn nhỏ giọng nói: “Bên phía giám môn không có ai. Đám tôi tớ chắc đi ngắm đèn vẫn chưa về…” Thành môn lang trợn mắt: “Làm càn! Không để lại đứa nào trực ban à? Bọn nó muốn bay đầu hết rồi hả?”
Việc đóng cổng thành rất đơn giản, chỉ cần vài tên lính đẩy tời xuống là được, nhưng việc khóa cổng lại không dễ dàng như thế. Đại Đường rất chú trọng đến canh phòng ở cổng thành, thành môn lang có thể huy động lính gác, nhưng chìa khóa cổng lại do giám môn phụ trách. Như vậy, việc gác cổng và chìa khóa nằm trong tay hai người khác nhau, giúp giảm nguy cơ hối lộ, đút lót. Nếu thành môn lang muốn khóa cổng thì phải phái người đi tìm giám môn, để bên đó cho người mang chìa khóa sang.
Đêm qua là lễ hội đèn lồng, toàn thành không giới nghiêm, cổng thành cũng rộng mở. Đám tôi tớ bên giám môn to gan, dám tự ý rời khỏi vị trí, chạy đi ngắm đèn, không còn một ai. Thành môn lang tức giận đến nghiến răng nghiến lợi, nhưng trước mắt cũng không còn cách nào khác, chỉ đành tạm đóng cổng thành lại trước.
Đúng lúc này, một lính gác đột nhiên chạy tới: “Bên ngoài có người xin vào thành.”
Thành môn lang thầm nghĩ đó hẳn là một kẻ vô công rồi nghề chạy ra ngoài thả đèn sông, liền dứt khoát từ chối: “Không được! Đuổi đi!”
“Ờm… Hay là ngài đích thân qua xem xem?” Tên lính gác tỏ vẻ khó xử.
Thành môn lang nhướng mày, bộ giáp sắt xóc nảy theo từng bước chân đi lên cầu thang dẫn đến tường thành. Hắn thò đầu nhìn xuống, không khỏi sửng sốt. Trong ánh nắng sớm mai, hắn thấy một người một ngựa đang đứng dưới thành. Người trên ngựa đội nón rộng vành, mặc đồng phục cấp sứ màu nâu nhạt, thoạt nhìn không có gì đặc biệt. Nhưng con ngựa kia nhìn không được bình thường, lỗ mũi nó phập phồng, khóe miệng sùi ít bọt trắng, nhìn như là ngựa ở trạm dịch vừa chạy một đoạn đường dài, hơn nữa còn phóng rất nhanh. Hai bên con ngựa treo hai cái giỏ trúc cực lớn, nắp buộc dây gấm, niêm phong giấy vàng, phía đuôi ngựa còn cắm một lá cờ Ứng Long màu đỏ, có viền răng cưa.
Vừa nhìn thấy lá cờ nhỏ chỉ dài chừng một thước, thành môn lang liền biến sắc. Hắn vội vàng rụt đầu lại, dẫn người đi xuống dưới cổng thành rồi mở ra một khe nhỏ đủ cho ngựa đi vào.
Thành môn lang đích thân kiểm tra ngư phù của đối phương, thấy không có vấn đề gì thì đi đến cạnh chiếc giỏ lớn nhưng cũng không dám chạm vào tờ giấy niêm phong. Hắn cúi đầu, thấy một cành gỗ nhỏ thỏ ra khỏi giỏ liền ngửi thử, một mùi hương sảng khoái xộc vào cánh mũi. Bấy giờ, hắn mới đứng thẳng dậy, mỉm cười với sứ giả: “Tôn sứ đến đúng lúc lắm. Nếu đợi một lúc nữa khóa chắc rồi thì cả ta cũng không mở cửa cho ngài được.” Sứ thần không nói gì, chỉ thu lại tín phù rồi thúc vào bụng ngựa, chạy xuyên qua Diên Hưng môn rồi lao thẳng vào thành.
Một lính gác tỏ mỏ hỏi đó là ai. Thành môn lang lau mồ hôi, thấp giọng nói: “Đây là cấp sứ đến từ Bồi Châu. Ngươi nhìn thấy những đường răng cưa ở bên mép cờ Ứng Long không? Tổng cộng có bảy cái răng cưa, mỗi một cái tương ứng với một ngày, trong vòng bảy ngày phải chuyển được hàng hóa đến Trường An.”
Một tên lính khác người gốc Tứ Xuyên không khỏi kinh ngạc: “Từ Bối Châu đến đây phải hai nghìn dặm đường, nếu đi bảy ngày thì chẳng phải không được nghỉ ngơi một khắc nào sao? Hàng gì mà đáng giá thế?” Những người lính này ngày ngày quan sát các thương đội ra vào thành Trường An nên rất hiểu về chi phí vận chuyển. Với tốc độ và cường độ chạy như thế thì biết bao nhiêu con ngựa mệt chết giữa đường, dù hai thùng kia có chứa đầy vàng thì cũng vẫn lỗ ấy chứ?
Trước vẻ mặt tò mò của cấp dưới, thành môn lang chỉ đáp hai chữ: “Vải thiều.” Tên lính gốc Tứ Xuyên kia lại kinh hô: “Giờ mới là tháng Giêng, lấy đâu ra vải thiều?” Thành môn lang cười khẩy. “Đốt lửa sưởi trong nhà đất, cho hơi nước bốc lên, bao nhiêu tô thuế đều ném vào đấy cả thì có gì là không trồng được? Đấy là còn chưa thấm vào đâu. Vừa rồi, các ngươi có nhìn thấy cành cây nhô ra khỏi giỏ không? Để quả vải chuyển đến Trường An vẫn còn tươi ngon, người ta sẽ không hái quả xuống mà cắt cả cành. Vận chuyển được một giỏ vải thiều đến đây thì sẽ chặt bỏ cả một cây vải.”
Đám lính sửng sốt: “Vậy… Vậy thì vải thiều này phải đắt đến mức nào? Ai mua đây?”
Thành môn lang ngoái đầu nhìn về cung điện ở hướng bắc, chỉ lẩm bẩm: “Tự khắc có người thích ăn, tự khắc có người muốn mua…”, mà không nói rõ. Sau đó, hắn quay đầu lại, nghiêm khắc dạy dỗ: “Cấp sứ treo cờ Ứng Long mỗi tháng sẽ tới một lần. Bình thường đi Khải Hạ môn nên các ngươi không biết. Hôm nay có lẽ Khải Hạ môn đóng sớm nên hắn mới đi đường vòng đến Diên Hưng môn của chúng ta. Lần sau nhớ là mệnh lệnh có nghiêm khắc đến mấy cũng không thành vấn đề trước lá cờ này, nhất định không được phép ngăn cản, bằng không sẽ rước họa vào thân đấy.”
Mọi người đồng loạt gật đầu. Thành môn lang lại xua tay. “Đừng nói linh tinh nữa, mau đóng cổng thành lại rồi đi tìm đám giám môn ngu ngốc kia đi. Không khóa được cổng thì ta sẽ lấy đầu chúng!”
Sau khi đi qua Diên Hưng môn, sứ giả kia chạy một mạch qua khoảng hai phường nữa. Trên phố, mọi người vội vã rảo bước về nhà trong tiếng trống dồn dập và tiếng quát tháo của binh lính tuần tra. Tuy nhiên, không ai dám ngăn cản lá cờ Ứng Long kia. Người sứ giả quan sát một lúc rồi thúc ngựa tiến vào phường Vĩnh Sùng ở gần đó. Ở góc đông nam phường này có một ao phóng sinh, tương truyền hồ ly từng náo loạn nơi đây nên rất ít người dám bén mảng tới gần.
Đến cạnh bờ ao, sứ giả cởi chiếc mũ rộng vành xuống, để lộ gương mặt chất phác của A La Ước. Hắn xoay người xuống ngựa, dỡ chiếc giỏ lớn bên phải con ngựa xuống, đẩy Trương Tiểu Kính đang cuộn mình co ro bên trong lăn ra ngoài, vài quả vải và nhánh cây còn tươi nguyên cũng lăn ra theo.
Ngày nào A La Ước cũng dẫn lạc đà ra chăn ngoài thành nên biết rõ tháng nào cũng có phi sứ cưỡi ngựa chở vải thiều đến Trường An, cũng biết lá cờ Ứng Long nhỏ bé kia còn uy phong hơn cả sứ thần quân sự, không bao giờ gặp phải bất kì trở ngại nào. Hôm nay trùng hợp lại đúng ngày phi sứ giao hàng. Vì ân công, hắn đã đánh liều chặn phi sứ kia lại rồi đánh ngất người đó, mang theo đầy đủ tín phù, giả trang thành sứ thần và giấu Trương Tiểu Kính vào trong giỏ. Dải giấy niêm phong màu vàng đã được đóng dấu cẩn thận, không ai dám mở khi chưa được phép nên hai người họ dễ dàng trà trộn vào thành.
Trong khắp vùng trời này, đây là con ngựa duy nhất có thể vào thành ngay cả khi toàn thành đã bị phong tỏa.
Trương Tiểu Kính đứng dậy khỏi mặt đất, phủi phủi những chiếc lá dính trên người rồi nhìn xung quanh với ánh mắt u ám. Y vừa mới ăn ít thịt chim rừng nên cũng hồi phục được đôi chút, nhưng cổ họng vẫn khô khốc, không thể nói thành lời. A La Ước nhìn ân công, cảm thấy có gì đó khang khác: tóc mai dường như đã bạc đi một ít, con mắt đánh mất hoàn toàn vẻ sắc bén bình thường, chỉ còn lại một màu vẩn đục, u ám.
Có lẽ cái chết của người bạn kia đã khiến Trương soái đau lòng chăng? A La Ước lờ mờ đoán vậy nhưng không dám hỏi thêm.
Trương Tiểu Kính ra hiệu cho A La Ước tìm một thanh gỗ cháy dở có đầu than và một mảnh giấy vụn ở gần đó. Tuy y viết lách không văn vở được như những văn nhân tao nhã nhưng cũng biết viết chữ. Thanh than xoẹt qua trên mặt giấy, y nhanh chóng hoàn thành một bức thư ngắn.
Trương Tiểu Kính gấp bức thư lại rồi đưa cho A La Ước, sau đó chỉ về cổng thành phía xa. A La Ước hiểu ra ý y là muốn bảo mình chuyển bức thư cho lính gác ở Diên Hưng môn. Nhưng hắn rất tò mò, nếu bức thư này quan trọng đến vậy, tại sao ân công không tự tay gửi? Trương Tiểu Kính lắc đầu, chỉ tay về một hướng khác, ý nói mình còn có việc cần phải làm.
Trương Tiểu Kính biết thân phận của mình quá nhạy cảm, nếu tùy tiện xuất hiện trước mặt quan quân sẽ nảy sinh vô số rắc rối. Mối nguy của thiên tử đã được giải quyết, chỉ cần A La Ước gửi phong thư kia đi là được. Còn y nhất định phải lập tức chạy đến ti Tĩnh An. Nếu Lý Tất còn sống thì nhất định đang ở đó.
Những lời Tiêu Quy nói trước khi chết quá đáng sợ, y không thể nói cho ai biết. Dù thế nào đi nữa, y cũng phải cho Lý Tất biết trước càng sớm càng tốt.
A La Ước cất lá thư, khom lưng chào ân nhân rồi xoay người rời đi. Trương Tiểu Kính dắt con ngựa, ném hai giỏ vải thiều xuống ao phóng sinh rồi xoay người trèo lên, dốc hết sức chạy ra ngoài phường.
Nhờ oai phong của lá cờ Ứng Long, lính gác phường không dám ngăn cản y. Trương Tiểu Kính rời khỏi phường Vĩnh Sùng, mới chạy được một đoạn dọc theo đường chính về hướng tây thì con ngựa đột nhiên kêu lên một tiếng, gục xuống đất, sùi bọt mép rồi không thể đi thêm được nữa.
Con ngựa này đã phi một mạch từ Tý Ngọ cốc ở Hộ Huyện, đến được thành Trường An thì cũng đã cạn kiệt sức lực. Giờ nó không những không được nghỉ ngơi mà còn bị Trương Tiểu Kính thúc đi một đoạn, cuối cùng không chịu được nữa, cứ thế ngã nhào xuống đất. Trương Tiểu Kính giỏi cưỡi ngựa, nhưng thể lực suy nhược khiến y không thể phản ứng lại. Y cứ thế bị quăng khỏi lưng ngựa, cái nón vành rộng trên đầu cũng văng ra, lăn lông lốc trên mặt đất.
Y cắn răng gượng dậy, nhìn xung quanh xem có phương tiện di chuyển nào khác không. Đúng lúc này, phía đối diện vang lên tiếng bước chân dồn dập. Hóa ra đó là lính tuần tra của huyện Vạn Niên đang đốc thúc dân chúng nhanh chóng trở về nhà.
Vừa nhìn thấy một con ngựa của trạm dịch nằm sõng soài trên mặt đất, bên cạnh còn có một người nom có vẻ như sứ giả, đám lính liền cảm thấy vô cùng kỳ lạ. Họ đồng loạt giương vũ khí, hét về hướng này. Trương Tiểu Kính không nói nên lời, chỉ đành vẫy lá cờ Ứng Long trên tay. Trong nhóm lính tuần có người hiểu biết, vừa nhìn thấy lá cờ liền tự động chùn bước trước uy phong.
Nhưng tên lính dẫn đầu lại nheo mắt, cầm thước sắt chậm rãi lại gần, rồi đánh mạnh một cái lên cổ Trương Tiểu Kính, khiến y ngã xuống đất. “Trương Diêm vương? Ngươi giả làm phi sứ của hoàng đế, thật sự cho rằng chúng ta không nhận ra sao?”
Gã đàn ông một mắt này nổi tiếng ở huyện Vạn Niên đến mức không ai không biết chuyện của y. Trương Tiểu Kính nhìn đối phương không quen, có lẽ là người mới đến sau khi y vào tù. Hắn ta cười hung ác: “Trương đại soái đã xử lý biết bao nhân vật lớn nhỏ, làm sao có thể nhận ra ta được? Có điều, ta biết một người ngài nhất định nhận ra, hơn nữa người đó cũng rất muốn gặp ngài.”
Trương Tiểu Kính sững người, chẳng lẽ bọn chúng muốn đưa y tới nha môn huyện Vạn Niên sao? Lòng y nóng như lửa đốt, một chuyện quan trọng như vậy sao có thể bị trì hoãn ở đây được.
Tên kia không nói gì thêm, chỉ lệnh cho hai người đỡ Trương Tiểu Kính dậy, rẽ sang một con đường khác. Trương Tiểu Kính cố gắng vẫy vùng nhưng hai cánh tay cứng ngắc của hai tên lính tuần kẹp chặt hai bên, khiến y không thể làm gì được.
Nếu là lúc bình thường thì hai tên này không đấu nổi một hiệp với y. Trương Tiểu Kính đánh lang vệ Đột Quyết, ngăn chặn Kiến Càng, nhưng lại chịu chết trước hai tên lính tuần này, đúng là hổ xuống đồng bằng.
Nhóm người đi qua mấy con phố, chẳng mấy chốc đã đến trước cửa một trạch viện. Trạch viện này chỉ có một khoảng sân nhỏ ở giữa, bài trí vô cùng tinh xảo, có đèn đá lầu lim, có vườn cây hồ cá, phía bắc có một lầu gác màu vàng nhạt tỏa ra hương thơm thoang thoảng. Tên lính dẫn đầu đứng trước cổng đợi một lúc, chẳng mấy chốc đã thấy một người đàn ông trung niên mặc quan bào xanh nhạt đi ra. Người này mắt hí mũi khoằm, thấy Trương Tiểu Kính bị áp giải trước cửa thì ánh mắt lập tức sáng lên.
Tên lính dẫn đầu nói: “Biết ngài vẫn đang tìm gã này. Chúng ta vừa tóm được hắn liền đưa qua đây luôn, chứ chưa dẫn qua nha môn.” Gã đàn ông trung niên kia đưa cho hắn vài quan tiền, đối phương vui vẻ nhận lấy rồi lập tức rời đi.
“Trương Tiểu Kính! Việc hôm nay ngươi làm đúng là không tầm thường. Ta thật sự đã đánh giá thấp ngươi rồi!” Giọng gã đàn ông trung niên vang lên đầy nham hiểm nhưng vẫn không giấu được cảm giác vui mừng. Trương Tiểu Kính ngẩng đầu lên nhìn. Quả nhiên là người quen! Thì ra đó chính là Phong Đại Luân, chủ sự bộ Ngu, bang chủ bang Hùng Hỏa.
Phong Đại Luân sợ Trương Tiểu Kính vô cùng. Suốt cả ngày hôm nay, hắn ta cứ thấp thỏm chờ đợi ở Di Hương các, chưa đợi được tin tên hung đồ kia chính thức toi mạng thì hắn còn chưa yên lòng. Bang Hùng Hỏa có kênh tình báo riêng. Trương Tiểu Kính bị truy nã toàn thành, chẳng bao lâu sau, lệnh truy nã lại được tạm hoãn. Sau đó, cung Hưng Khánh xảy ra vụ nổ, toàn thành giới nghiêm, một chuỗi sự kiện này đều có mối liên hệ mơ hồ với vị bất lương soái đang đứng trước mặt hắn. Hắn thậm chí còn loáng thoáng nghe ngóng được rằng Trương Tiểu Kính hình như đã làm phản, gia nhập Kiến Càng. Không ngờ tội danh Nguyên Tái vu oan cho y lại thành thật rồi.
Càng không ngờ mọi việc lại diễn biến theo hướng rất kỳ lạ. Không hiểu sao Trương Tiểu Kính lại rơi vào tay lính tuần, vừa khéo tên lính dẫn đầu đội tuần tra đó lại là tay trong của bang Hùng Hỏa cài cắm ở nha môn, nên cứ thế đưa Trương Tiểu Kính đến trước mặt mình.
Thấy tên khốn từng oai phong lẫm liệt khi xưa đang ngoan ngoãn quỳ gối dưới bậc thềm để mình sỉ vả, Phong Đại Luân cuối cùng cũng cảm thấy nhẹ nhõm sau suốt một ngày dài lo lắng không yên.
“Ngày đó ngươi xông vào bang Hùng Hỏa của ta, giết chết người trong bang ta, có từng nghĩ tới sẽ có ngày hôm nay không?” Phong Đại Luân duỗi một chân ra, nâng cằm Trương Tiểu Kính. Không ngờ Trương Tiểu Kính vừa trừng con mắt độc nhất lên, hắn đã bị dọa đến phát run như thường lệ. Hắn suýt nữa không đứng vững, vội vàng bám vào cây cột cạnh hành lang.
Phong Đại Luân vừa mất mặt vừa giận dữ, đạp một phát vào ngực Trương Tiểu Kính, khiến y ngã lăn xuống đất. Cảm thấy vẫn chưa đủ, hắn lao tới bồi thêm vài cú đau điếng nữa, vừa đá vừa hét như phát điên.
“Chẳng phải ngươi trọng tình trọng nghĩa, muốn báo thù cho đồng đội sao? Chẳng phải ngươi liều mạng muốn nhổ cỏ tận gốc bang Hùng Hỏa của ta sao? Chẳng phải ngươi muốn bảo vệ con ả Văn Nhiễm đó sao?”
Vụ thảm sát lần đó đã để lại một cái bóng rất lớn trong lòng Phong Đại Luân. Cho đến tận bây giờ, hắn vẫn vô cùng sợ hãi mỗi khi nghe thấy cái tên Trương Tiểu Kính. Nỗi sợ hãi bị đè nén quá lâu giờ đây đã biến thành khoái cảm tàn bạo, trút hết lên người Trương Tiểu Kính.
Phong Đại Luân đánh đến mức nhễ nhại mồ hôi mới dừng lại. Hắn quỳ một chân xuống, túm tóc Trương Tiểu Kính: “Vạn vật xoay vần, ác có ác báo. Hôm nay ngươi rơi vào tay ta rõ ràng là ý trời. Đừng mong ta sẽ đưa ngươi đi gặp quan phủ để gánh chịu hình phạt. Không! Như thế là chưa đủ! Chỉ khi tự tay tước đi mạng sống của ngươi thì ta mới có thể thoát khỏi cơn ác mộng, mới có thể báo thù cho những huynh đệ đã hy sinh trong bang!”
Vẻ mặt hắn hưng phấn đến mức vặn vẹo. Giờ đây, hắn cuối cùng cũng có thể tự tay ném tảng đá đè nặng trong lòng xuống. Đôi tay Phong Đại Luân hơi run lên.
Trương Tiểu Kính tỏ vẻ vô cảm, nhưng ngón tay y siết chặt lại, lòng nóng như lửa đốt. Phong Đại Luân để ý thấy chi tiết này: “Ngươi sợ rồi à? Ngươi cũng biết sợ sao? Ha ha ha! Đường đường Ngũ Tôn Diêm La mà cũng sợ rồi ư?”
Lúc này, mặt trời đang từ từ ló dạng ở phía đông. Trời dần sáng, cả Di Hương các bắt đầu ngào ngạt hương thơm. Phong Đại Luân lại túm tóc Trương Tiểu Kính kéo lên cao, buộc y phải ngẩng đầu nhìn vầng mặt trời đang lên, cuống họng thẳng tắp. Đột nhiên gặp phải luồng sáng mạnh, con mắt độc nhất kia liền nheo lại. Phong Đại Luân lại vươn tay kia ra, mạnh mẽ banh mắt Trương Tiểu Kính, để ánh nắng chói lọi chiếu vào đồng tử làm cay mắt đến trào nước.
“Khóc đi! Khóc đi! Loại ác quỷ như ngươi sợ nhất là ánh sáng mặt trời đúng không?” Phong Đại Luân hét lên như điên, hoàn toàn không để ý đến một mùi hương lạ chợt thoảng qua cánh mũi. Tay hắn giật mạnh, gần như muốn xé toạc da đầu Trương Tiểu Kính. Không! Nó đã bị xé rách rồi! Phong Đại Luân rõ ràng nhìn thấy khi hắn xé từng tấc da đầu ra: một cái đầu quỷ dữ tợn vừa đen vừa đỏ, răng nhọn, mũi cao, hai sừng nhọn hoắt cũng dần dần lộ ra.
“Ác quỷ Diêm La! Mau đi chết đi!”
Hắn rút con dao bên hông ra, đâm mạnh xuống yết hầu Trương Tiểu Kính, máu tươi nhất thời tung tóe trước mắt.
----------------------------------------
Lý Tất vừa về đến Kinh Triệu phủ liền hỏi: “Nội gián đang được giam ở đâu?” Triệu tham quân khom người đáp: “Đã sắp xếp xong xuôi, chưa hề tiếp xúc với bất cứ ai, chỉ đợi ti thừa về.”
Lý Tất hỏi thêm về chi tiết cuộc vây bắt. Cậu chưa đáp lễ đã tái mặt, vội vã lao về phía phòng giam.
Ngay khi nhận được tin nhắn của Triệu tham quân, cậu liền lập tức rời khỏi ngôi nhà kia. Lý Lâm Phủ vẫn ở đó nhưng bên ngoài quân Lữ Bôn cũng vây kín không thôi. Dù sao Lý Tất lúc này cũng không quan tâm quá nhiều nữa, cậu cũng chẳng ngại đắc tội vị trọng thần triều đình này thêm một lần.
Đến cửa phòng giam, Lý Tất nhìn vào bên trong qua song gỗ, quả nhiên là tên lính truyền tin ở đại điện ti Tĩnh An. Mặt cậu bỗng nóng bừng lên. Không ngờ suốt cả một ngày hôm nay, nội gián vẫn luôn ngang nhiên chạy ngay trước mắt cậu. Đây quả là một nỗi sỉ nhục ê chề với bất kỳ vị quan nào.
Nhưng cậu không thể hiểu nổi. Lý lịch của từng người trong ti Tĩnh An đều được kiểm tra kĩ càng, vị trí lính truyền tin này đương nhiên cũng không phải ngoại lệ. Tại sao tên này có thể thoát khỏi vòng xét duyệt nghiêm ngặt như vậy để thâm nhập vào trong điện?
Lý Tất không tin lang vệ Đột Quyết hoặc Kiến Càng có thể làm được việc này. Bởi không giống như phóng hỏa giết người, kẻ thực hiện bắt buộc phải hiểu biết sâu sắc về bộ máy quan lại, đồng thời là một bệ đỡ vững chắc thì mới có thể sắp xếp mọi bề và cử một người vào trong ti Tĩnh An.
Đáng tiếc là toàn bộ hồ sơ, giấy tờ, tài liệu đã bị thiêu rụi trong trận cháy vừa rồi, giờ muốn tra lại cũng không thể.
Giờ đây nhớ lại, ban nãy chính tên lính truyền tin này đã thông báo cho Lý Tất biết vị trí của dinh thự ở phường An Nghiệp. Khi đó, hắn chỉ nói rằng tin tức này đến từ một vị chủ sự, Lý Tất còn không buồn xác minh. Đây hiển nhiên là do kẻ chủ mưu đứng sau giở trò. Đầu tiên, chúng dụ Lý Lâm Phủ tới, sau đó lại dẫn dụ Lý Tất. Cứ như vậy, tai họa ở cung Hưng Khánh vừa có một người giật dây, vừa có một người làm chứng.
Kẻ chủ mưu đứng sau có thủ đoạn thực cao minh. Hắn chỉ cần nhẹ nhàng thả ra vài câu mà đã có thể đẩy cục diện đến nước này.
Thái tử quả thực là người được lợi nhiều nhất, nhưng người có thể giở những trò này được sao? Lý Tất vẫn không thể tin nổi. Cậu quá hiểu Lý Hanh, một người trung hậu và hơi nhút nhát như vậy thật sự không hợp với phong cách nham hiểm này.
Lý Tất vốn định lập tức chạy đến vườn thuốc Đông cung để đối chất với thái tử một lần nữa. Nhưng suy đi tính lại, cậu vẫn quyết định xử lý tên nội gián trước. Cục diện hỗn loạn của cung Hưng Khánh vẫn chưa được ổn định, thiên tử cũng chưa rõ sống chết ra sao. Nếu hoàng đế băng hà thì không nói làm gì, nhưng nếu người may mắn sống sót và tiến hành điều tra, phát hiện ra thái tử rời khỏi bữa tiệc giữa chừng, đến lúc đó mới là đại nạn.
Cho dù Lý Tất có dám đánh cược thì cũng không dám đánh cược với tiền đồ của thái tử. Điều cậu có thể làm là nhanh chóng thẩm vấn nội gián, tóm được kẻ chủ mưu thật sự, nếu đó đúng thực không phải là thái tử.
Dòng suy nghĩ thoáng qua trong đầu Lý Tất. Cậu đẩy cửa phòng giam, bước vào bên trong. Tên nội gián đã tỉnh lại nhưng toàn thân đang bị trói gô, miệng cũng được buộc một dải vài.
“Cởi dải vải trên miệng hắn ra.” Lý Tất ra lệnh.
Triệu tham quân lo lắng nói lỡ như hắn cắn lưỡi tự sát thì sao. Lý Tất nói: “Để không bại lộ thân phận, hắn ta hết giết chết Từ Tân, còn định giết cả Diêu Nhữ Năng. Sợ chết như thế thì sao có thể tự sát được?”
Thế là binh lính bước tới, cởi dải vải ra. Tên nội gián thoi thóp ngước đầu lên nhìn Lý Tất nhưng không lên tiếng.
“Suốt cả ngày hôm nay, ngươi đã mang đến cho ta rất nhiều tin tức, tốt có, xấu có. Giờ ta hy vọng ngươi có thể báo cho ta một tin tức khác: là ai đã phái ngươi đến ti Tĩnh An?”
Tên nội gián hé răng thốt lên đúng hai chữ: “Kiến Càng.”
“Nực cười!” Lý Tất cao giọng. “Chỉ dựa vào Kiến Càng thì không thể làm được việc này.” Cậu tiến lên thêm hai bước, giọng uy hiếp: “Đừng tưởng rằng bát pháp của Lai thị đã thất truyền! Nói! Là ai đã phái ngươi đến ti Tĩnh An?”
Lai bát pháp do Lai Tuấn Thần truyền lại là tám phương pháp tra tấn khắc nghiệt dùng trong tra khảo, thường chỉ lưu truyền trong giới đao phủ, ngục tốt, còn giới học giả luôn coi khinh mỗi khi nhắc đến. Lý Tất uy hiếp đến mức này chứng tỏ cậu đã sốt ruột lắm rồi.
Tên lính truyền tin vẫn không hề nao núng: “Lý ti thừa! Ban nãy ngươi nói rằng ta sẵn sàng giết hai người diệt khẩu để bảo vệ bản thân, rằng ta là một kẻ sợ chết. Nhưng ngươi đã bao giờ thử nghĩ xem còn có khả năng nào khác không?”
Ánh mắt Lý Tất lóe lên.
“Ai biết chuyện này cũng phải chết.” Tên lính truyền tin nở một nụ cười đáng sợ, lè lưỡi ra ngoài.
Lý Tất lập tức phản ứng, vội vàng đưa tay ngăn cản. Nhưng ngay khi tên lính truyền tin ngậm miệng lại, hắn ta cũng đồng thời cắn đứt lưỡi mình rồi ra sức nuốt vào. Nửa đầu lưỡi trượt vào trong cuống họng rồi mắc kẹt ở đó vì quá dày. Mọi người có mặt trong phòng giam vội vàng lao tới, đập thùm thụp vào lưng hắn, nhưng hắn vẫn cứng đầu ngậm chặt miệng mặc cho máu tươi ứa ra. Không lâu sau, hắn đau đớn giãy giụa vài cái rồi nghẹn chết.
Đúng vậy, tất cả những ai biết chuyện đều phải chết, kể cả chính hắn ta.
Những người có mặt ở đó nhất thời không nói nên lời. Mệnh lệnh tháo dây phải do đích thân Lý Tất ban ra, họ không biết lúc này nên phản ứng thế nào mới phải. Lý Tất lạnh lùng quay đầu nói: “Hãy kiểm tra xem bình thường có ai hay qua lại với tên lính truyền tin này. Chỉ cần người đó còn sống thì đưa hết đến đây cho ta.”
Kho hồ sơ của ti Tĩnh An đã bị tiêu hủy, trong khi tên lính truyền tin này đã tự kết liều mạng mình. Nếu muốn tìm hiểu sâu hơn về hắn thì chỉ hy vọng có thể dựa vào những dấu vết hắn ta từng để lộ lúc bình thường.
Không biết là may hay không may, quân số ti Tĩnh An còn lại không nhiều sau trận hỏa hoạn vừa rồi, hơn nữa đa phần đều đang dưỡng thương ở Kinh Triệu phủ. Vì vậy, chẳng mấy chốc, Triệu tham quân đã tập hợp được khoảng chục người thường giao tiếp với tên lính truyền tin. Lý Tất nhìn họ một lượt. “Sao toàn là người Đường vậy? Hắn ta không qua lại với người Hồ à?”
Triệu tham quân đáp rằng trước đó, Cát Ôn đã đuổi tất cả quan lại người Hồ đi để đề phòng có nội ứng Đột Quyết. Lý Tất trừng mắt: “Vớ vẩn! Mau gọi hết họ về!” Triệu tham quân tất tả chạy ra ngoài sắp xếp mọi việc, còn Lý Tất thì ở lại phòng giam thẩm vấn khoảng chục người này trước.
Đám người run lẩy bẩy, cho rằng bản thân sắp bị dụng hình tra khảo. Không ngờ Lý Tất vẫn khá ôn hòa, chỉ yêu cầu họ kể lại những hiểu biết hàng ngày về tên lính truyền tin kia, càng chi tiết càng tốt. Vậy là mỗi người một câu, cứ thế kể lại tất cả những điều mình biết.
Thì ra tên lính truyền tin kia họ Lục, tên Tam, người Việt Châu. Hắn tuy ăn nói sang sảng khi làm nhiệm vụ, nhưng bình thường lại là một kẻ kiệm lời. Mọi người chỉ biết rằng hắn vẫn còn độc thân, chưa từng lấy vợ và cũng không có bà con thân thích nào ở kinh thành. Về việc Lục Tam từ Việt Châu đến kinh đô như thế nào, được chọn vào ti Tĩnh An làm việc ra sao thì gần như không một ai hay biết. Chỉ có một người đề cập rằng Lục Tam hình như trước đây từng đi lính.
Lý Tất hỏi đi hỏi lại mấy lần nhưng vẫn không nhận được câu trả lời giá trị nào. Cậu bực dọc chắp tay sau lưng, bảo bọn họ tiếp tục suy nghĩ. Đúng lúc cậu đang định tra hỏi tiếp thì cánh cửa phòng giam đột nhiên bị đẩy ra. Vài tiểu lại người Hồ ngơ ngác bị đẩy vào. Bọn họ đều sống gần phường Quảng Đức nên được tìm về đây trước tiên.
Lý Tất cũng yêu cầu họ cố gắng nhớ lại, nhưng đáng tiếc rằng nội dung hồi ức của họ cũng không khác những gì cậu đã biết là mấy. Thái độ của Lục Tam với người Đường và người Hồ không quá thiên vị bên nào. Đánh giá của mọi người về hắn đều nhất quán: tính tình trầm ồn, biết lễ nghĩa, ôn hòa, qua lại với khá nhiều đồng đội nhưng đều chỉ quen sơ, không đặc biệt thân thiết với ai. Đồng đội ốm đau, tai nạn hay hiếu hỷ ma chay đều chưa từng vắng mặt, thỉnh thoảng ai đó cần mượn tiền gấp thì hắn cũng sẵn sàng giúp đỡ, là một người ân tất báo, nợ tất trả. Bản thân Lục Tam cũng không có sở thích đặc biệt nào, chỉ thỉnh thoảng uống chút rượu, chơi ván cờ.
Lý Tất đứng bên cạnh đột nhiên hét lên: “Dừng!” Mọi người đang chuyện trò sôi nổi thì buộc phải dừng lại, ai nấy đều lấy làm kinh ngạc. Lý Tất liếc nhìn xung quanh, hỏi câu vừa rồi là ai nói. Một tiểu lại người Đường dè dặt giơ tay.
Lý Tất lắc đầu. “Câu trước đó nữa cơ! Cái câu ‘Ân tất báo, nợ tất trả’ ấy.” Mọi người ngơ ngác nhìn nhau. Một ông lão người Túc Đặc chừng hơn năm mươi tuổi đứng lên, vẻ mặt có chút lo lắng.
“ ‘Thỉnh thoảng ai đó cần mượn tiền gấp thì hắn cũng sẵn sàng giúp đỡ, là một người ân tất báo, nợ tất trả.’ Câu đó là ông nói à?”
“Đúng! Đúng là tại hạ nói… Tại hạ từng vay tiền Lục Tam.” Ông ta nói tiếng Đường có vẻ cứng nhắc, chắc là sau khi trưởng thành mới học.
“Vay bao nhiêu?”
“Tiền ba nghìn, lụa hai thất. Vay hai tháng, đã trả hết rồi.”
Lý Tất nói: “Vừa rồi ông nói hắn ta là một người ân tất báo, nợ tất trả. Đó là đánh giá của ông hay do hắn tự nói?”
Ông lão Túc Đặc thoáng bối rối trước câu hỏi này, ngẩng đầu lên nhìn Lý Tất. Lý Tất nói tiếp: “Người bình thường chúng ta thường nói: ‘Có ân tất báo, có nợ tất trả’. Tại sao ông lại nói là ‘Ân tất báo, nợ tất trả’?”
Ông lão người Hồ không hiểu nổi tại sao cấp trên lại vướng vào một tiểu tiết như cách dùng từ. Chẳng phải chỉ thuận miệng nói thế chứ làm gì có tại sao với không tại sao? Ông ta loay hoay không biết phải trả lời thế nào. Lý Tất nói: “Ông vô thức nói thế có phải do bị ảnh hưởng bởi Lục Tam?”
Khi người trưởng thành học ngoại ngữ thường rất dễ bị ảnh hưởng bởi người khác mà không hề hay biết. Sau khi được Lý Tất gợi ý, ông ta chợt nhớ ra: “Đúng! Đúng! Lục Tam suốt ngày nói như thế nên ta cũng bất giác học theo lúc nào không biết.”
Lý Tất đăm chiêu, quay đầu nói với Triệu tham quân: “Giải tán bọn họ đi.”
“Hả? Hỏi được gì rồi sao?” Triệu tham quân mù mờ.
Lý Tất không đáp lời hắn, chỉ thuận miệng ngân nga một câu: “Thủ Tróc Lang, Thủ Tróc Lang, ân tất báo, nợ tất trả.” Càng nói, vẻ mặt cậu càng nghiêm trọng.
Có ân tất báo, có nợ tất trả vốn là một câu tục ngữ được lưu truyền rộng rãi. Để phù hợp với ba chữ trong tên mình, Thủ Tróc Lang đã cố tình bớt đi chữ có, chỉ để lại Ân tất báo, nợ tất trả. Trên đời này chỉ có bọn họ mới nói vậy.
Lý Tất phất tay áo, giọng nói trở nên nghiêm nghị: “Tập hợp một đội trăm người, theo ta đến phường Bình Khang!”
----------------------------------------
Di Hương các của Phong Đại Luân nằm ở phường Tĩnh An tại đông thành. Thật trớ trêu khi phường này lại trùng tên với ti Tĩnh An. Nơi đây được coi là đường phân chia ranh giới của huyện Vạn Niên. Phía bắc phường Tĩnh An là khu vực giàu có, sầm uất, phồn hoa và náo nhiệt, còn phía nam thì toàn đất hoang với trạch viện rộng lớn, cư dân thưa thớt, phần lớn là các thành phần bất hảo. Phong Đại Luân xây dựng Di Hương các ở đây không chỉ để nở mày nở mặt, mà còn để tiện chỉ huy bang Hùng Hỏa từ xa.
Căn nhà này được hắn mua từ tay một thương nhân vài năm trước. Nói là mua nhưng thực ra là cưỡng đoạt. Chức vụ chủ sự bộ Ngu tuy phẩm vị thấp kém nhưng lợi lộc lại nhiều. Chỉ cần bày ra chút thủ đoạn trong việc xây dựng cộng thêm sức mạnh bang hội, việc bóp chết một thương nhân cỏn con không người chống lưng dễ như trở bàn tay.
Di Hương các là nơi Phong Đại Luân tốn nhiều tiền bạc và công sức tu sửa nhất nên phong nhã vô cùng. Chính vì vậy, hắn không thích đám người thô tục của bang Hùng Hỏa đến gần, chỉ cho phép vài thị vệ canh giữ trước cửa.
Nói là thị vệ nhưng thực ra chỉ là vài thanh niên trai tráng lêu lổng, kẻ ngồi kẻ nằm, nom chẳng ra thể thống gì. Bọn chúng ở ngoài cửa, nghe thấy tiếng chủ nhân hét rống lên rồi lại bật cười điên dại trong sân thì không khỏi nhìn nhau. Một kẻ từng trải trong nhóm nói: “Khó trách ngài ấy lại như vậy. Các ngươi không biết đâu. Trước đây tên Diêm La chột mắt kia từng đột nhập vào đại bản doanh của bang Hùng Hỏa chúng ta, giết chết mấy trăm cao thủ. Hắn chính là kẻ thù lớn nhất của chúng ta.”
“Hàng trăm người?” Đám choai choai xung quanh há hốc mồm. “Cả bang Hùng Hỏa chúng ta cũng không có đến mấy trăm người ấy chứ?”
“Này! Ta cứ nói thế đấy! Dù sao thì tên điên kia cũng từng hành chúng ta lên bờ xuống ruộng. Lần này hắn rơi vào tay ông chủ thì không biết sẽ khổ sở thế nào.” Tên từng trải buông một câu cảm thán. Những người xung quanh đột nhiên chun mũi: “Thơm quá!”
“Không đúng…” Một kẻ khụt khịt. “Mùi hương bay từ bên kia tới.”
Những thị vệ khác cũng ngửi thấy. Mùi này nóng hơn mùi hương của Di Hương các, vừa hít vào mũi liền xộc thẳng lên não. Bọn chúng còn chưa kịp nhận ra nguồn tỏa hương thì đầu óc đã cảm thấy choáng váng, ánh mắt mơ màng dường như bày ra phía trước những thứ thượng hạng như rượu ngon, mỹ nữ, tuấn mã… Chúng tựa vào nhau cười khúc khích.
Lúc này, một bóng người lao tới nhanh như chớp, tay cầm chùy gỗ, giáng thẳng vào đầu họ. Đám thị vệ đang trong cơn mơ màng nên không phản ứng kịp, sau vài cú đánh liền gục xuống bất tỉnh. Ngay sau đó, bóng một cô nương cũng xuất hiện trước cổng. Cô đang dùng mảnh vải che miệng, tay cầm một bó hương tỏa khói nghi ngút.
Cô gái dập bó hương, gật đầu. Bấy giờ người đàn ông cầm chùy mới gỡ mảnh vải bịt mũi và miệng ra. Đó chính là Sầm Tham. Còn cô gái kia đương nhiên là Văn Nhiễm.
Sầm Tham chăm chú nhìn bó hương: “Đây chính là mê hồn hương trong truyền thuyết sao?”
Văn Nhiễm lắc đầu. “Làm gì có loại mê hồn hương nào vừa ngửi đã ngã xuống, cùng lắm chỉ xuất hiện ảo giác thôi. Loại mê huyễn hương này được điều chế từ hoa cà độc dược, hạt cây gai dầu và quả nhục đậu khấu, chỉ có thể khiến cho người ta đờ đẫn hơn một chút và sinh ra ảo giác. Cùng lắm chỉ có vậy thôi.”
“Thế là quá đủ rồi!” Sầm Tham ngẩng đầu nhìn cánh cổng, khua cây chùy gỗ trong tay, tự giễu: “Sầm Tham ta vốn muốn làm kiếm khách oai phong lẫm liệt, không ngờ lại có ngày làm trò chuốc thuốc mê như mấy bọn đạo chích tầm thường thế này.”
Văn Nhiễm buông hàng mi dài. “Công tử theo ta đến đây đã là hết lòng giúp đỡ rồi, việc còn lại cứ để ta tự làm đi!”
Sầm Tham bật cười, đi tới trước mặt cô: “Cô gái mồ côi báo đáp ân đức, lấy yếu chống mạnh, ta sao có thể khoanh tay đứng nhìn một đề tài thú vị như thế được? Ta làm việc này không phải vì đại nghĩa mà chỉ lấy tư liệu thôi.”
Kế hoạch của bọn họ rất đơn giản. Văn Nhiễm phụ trách đốt hương để kẻ địch rơi vào cơn mơ màng, còn Sầm Tham phụ trách ra tay. Bố cục của Di Hương các rất nhỏ, hôm nay lại đúng ngày hội hoa đăng nên nơi đây không có nhiều thủ vệ. Chỉ cần mê huyễn hương thực sự có tác dụng, Sầm Tham có thể đơn thương độc mã bắt cóc Phong Đại Luân.
Sau khi giải quyết xong đám người ở cổng, Văn Nhiễm ngồi xuống, cắm mê huyễn hương lên ngưỡng cửa rồi đốt thêm lần nữa. Đợi đến khi hương khói khuếch tán được vài phần, cô lại rút một cây quạt nhỏ ra, quạt lấy quạt để. Loại hương này có khói tương đối nặng, bay là là đầy mặt đất rồi mới từ từ bốc lên cao. Vì vậy, dù khói có bay vào khoảng sân rộng thì cũng không sợ bị gió thổi đi.
Văn Nhiễm quạt cho khói hương bay vào bên trong được một lúc, đoán chừng đã len lỏi vào khắp các ngóc ngách của Di Hương các thì gật đầu một cái với Sầm Tham. Sầm Tham liền vén góc áo bào, rút chùy xông vào cửa. Văn Nhiễm theo sát phía sau hắn.
Sầm Tham đi vòng qua bức bình phong trước cửa, thấy một người hầu đang cười ngây ngốc với một cái cây, liền giáng cho gã ta một chùy. Hắn tiếp tục xông vào một khoảng sân lát gạch xanh thì bất chợt đứng khựng lại. Văn Nhiễm chạy tới sau bỗng hét lên đầy căm phẫn.
Khoảng sân không rộng nhưng được bài trí rất tinh xảo, có cây có nước và có cả một căn Di Hương các ở phía bắc. Nhưng trong sân viện cực kỳ trang nhã ấy lại diễn ra một cảnh tượng máu me, tàn bạo.
Phong Đại Luân túm tóc Trương Tiểu Kính, vừa hét: “Ác quỷ Diêm La! Mau đi chết đi!”, vừa cầm dao điên cuồng chém xuống. Trương Tiểu Kính bị trói ngoặt hai tay, không có khả năng phản kháng, chỉ có thể vặn vẹo cơ thể để tránh bị đâm vào chỗ hiểm. Có lẽ bởi tâm trạng đang hưng phấn nên tác dụng của mê huyễn hương với Phong Đại Luân đặc biệt rõ ràng. Trong mắt hắn, hình ảnh Trương Tiểu Kính lúc này có lẽ đã thực sự biến thành một ác quỷ đến từ địa ngục.
Cũng may là hắn nhìn thấy ảo ảnh nên động tác cũng mất đi tính chính xác. Trương Tiểu Kính tuy bị đâm cho máu me be bét nhưng chưa bị trúng chỗ hiểm nào.
Sầm Tham và Văn Nhiễm vốn chỉ định đến bắt cóc Phong Đại Luân, không ngờ lại gặp được Trương Tiểu Kính ở đây. Sầm Tham thấy thế thi kịp thời phản ứng, xông tới tung chùy đánh văng con dao trên tay Phong Đại Luân đi rồi đạp hắn văng ra xa. Văn Nhiễm lập tức nhào tới bên cạnh Trương Tiểu Kính, òa khóc nức nở.
Hai người này tuy vẫn luôn tìm kiếm đối phương, nhưng đây là lần đầu tiên họ gặp được nhau trong vòng mười hai canh giờ vừa qua.
Trương Tiểu Kính mở con mắt độc nhất, thấy gương mặt Văn Vô Kỵ hiện lên trong bóng tối âm u, trông có vẻ vui mừng. Sau đó, các huynh đệ trong binh đoàn số tám cũng lần lượt hiện lên, họ tụ tập trên những áng mây, không nhìn rõ nét mặt ra sao. Chẳng mấy chốc, y lại nhìn thấy gương mặt Tiêu Quy thình lình xuất hiện bên cạnh Văn Vô Kỵ, miệng tóp tép nhai lá bạc hà, nhìn y đầy dữ tợn, ngọn lửa đỏ hừng hực bốc lên từ cơ thể hắn.
Trương Tiểu Kính thất kinh, toàn thân run lẩy bẩy. Đúng lúc này, cổ họng vốn tê dại bỗng thông thoáng lạ thường, phát ra những tiếng kinh hô khàn đục, không rõ là đau khổ hay giận dữ.
Văn Nhiễm thấy vậy liền biết rằng y cũng bị ảnh hưởng bởi mùi mê huyễn hương nên mới nhìn ra nỗi đau chôn giấu trong lòng. Cô vội vàng vốc nước lạnh dưới hồ tạt vào mặt y rồi cởi dây thừng ra. Bấy giờ Trương Tiểu Kính mới chú ý đến sự tồn tại của Văn Nhiễm. Y run rẩy ngẩng đầu, khẽ chạm lên mái tóc cô, im lặng hồi lâu.
Phong Đại Luân nghiêng người tựa vào Di Hương các, ánh mắt mơ màng. Sầm Tham vẫn luôn cảnh giác quan sát, đề phòng hắn ta chạy trốn.
Tác dụng của mê huyễn hương chỉ tồn tại trong thời gian ngắn, chẳng mấy chốc, Phong Đại Luân đã khôi phục được thần trí. Tên chủ sự bộ Ngu này cười gằn: “Giờ không biết vì lý do gì mà toàn thành đang giới nghiêm. Cho dù các ngươi có bắt ta đi thì cũng đừng mơ chạy đi đâu được.”
Sầm Tham biến sắc. Trước đó, hắn có nghe phong thanh về vụ hỗn loạn ở cung Hưng Khánh, cũng nghe thấy tiếng trống trên khắp phố phường. Phong Đại Luân nói không sai, giờ toàn thành đang giới nghiêm, bọn họ mang theo một viên quan trong triều thì chỉ sợ không qua nổi cánh cổng phường.
Kế hoạch hiện tại chỉ có thể là giết chết Phong Đại Luân ngay tại đây, sau đó trốn đến khi lệnh giới nghiêm được gỡ bỏ rồi tìm cách đưa Trương Tiểu Kính và Văn Nhiễm ra khỏi thành. Sầm Tham âm thầm tính toán, vô tình buông lỏng cảnh giác. Phong Đại Luân nhận ra cơ hội này liền nhảy tót lên, chui tọt vào Di Hương các rồi chốt chặt cửa.
Phong Đại Luân lăn xả trong thế giới ngầm nhiều năm nên luôn luôn thận trọng. Di Hương các này ngoài đặc điểm xa hoa, sang trọng thì còn được âm thầm sắp đặt một vài biện pháp an toàn. Ví dụ, cửa vào Di Hương các có bốn bản lề đồng cố định trục của hai cánh bên hông, chỉ cần người bên trong hạ chốt sắt xuống thì người bên ngoài không thể đá văng hay đập vỡ cánh cửa trừ khi phá hủy nó.
Sầm Tham lao tới đá vài cái nhưng cánh cửa gỗ vẫn không nhúc nhích. Ở phía bên kia, Phong Đại Luân cười lớn rồi xoay người rời đi. Sầm Tham biết trong Di Hương các chắc chắn còn một lối đi mật có thể dẫn đến các nơi khác, nhưng hắn không thể làm gì ngoài việc trơ mắt nhìn kẻ kia lặng lẽ biến mất.
Sầm Tham hung hăng đá mạnh vào cửa thêm phát nữa rồi quay lại, khẩn trương nói với Văn Nhiễm: “Mau chạy thôi! Phong Đại Luân trốn thoát rồi. Hắn ta nhất định sẽ gọi người quay lại dây.” Văn Nhiễm gật đầu rồi phối hợp cùng Sầm Tham, mỗi người một bên dìu Trương Tiểu Kính đứng dậy đi ra ngoài.
“Chúng ta cứ về tiệm hương Văn Ký đã. Nếu bước nhanh thì vẫn có thể về kịp trước khi dứt trống.” Sầm Tham nói lớn.
Lúc này, Trương Tiểu Kính lại lên tiếng: “Không! Chúng ta đi phường Quảng Đức…”
“Phường Quảng Đức? Không được! Xa quá!” Sầm Tham trừng mắt.
“Ta có việc gấp… phải nói cho Lý ti thừa. Mau đi!” Giọng Trương Tiểu Kính rất yếu nhưng vô cùng kiên quyết.
Văn Nhiễm thoáng do dự nhưng Sầm Tham lại không hề thương xót. “Giờ đã là lúc nào rồi mà ngươi còn lo lắng mấy chuyện đấy? Cứ ra ngoài đã rồi nói!”
Hai người vội vàng dìu Trương Tiểu Kính ra tới cổng. Vừa bước chân ra khỏi ngưỡng cửa, họ đột nhiên nghe thấy tiếng gọi lớn, tiếp đến là một luống sáng vàng chói lóa chiếu thẳng vào mắt gây choáng váng. Đợi đến khi thị lực được khôi phục, họ mới bàng hoàng nhận ra trước mặt thình lình xuất hiện một lượng lớn lính Long Võ, luồng sáng vừa rồi chính là ánh sáng mặt trời phản chiếu trên áo giáp họ.
Đám lính xếp thành hình vòng cung trước cửa với nỏ giương sẵn trên tay, dây cung kéo căng, tư thế sẵn sàng như lâm đại địch. Nếu đối phương phát động tấn công thì đám người Sầm Tham có thể biến thành nhím bất cứ lúc nào.
Ba người đi đầu đội ngũ kia lần lượt là Trần Huyền Lễ ở bên trái, Vĩnh vương ở bên phải và Phong Đại Luân vừa mới trốn thoát đứng ngay chính giữa với nụ cười hung ác, đang dương dương tự đắc chỉ về phía này.
----------------------------------------
Ở kinh thành, địa điểm của Thủ Tróc Lang nằm ở tiệm sách Lưu gia trong phường Bình Khang, ngay cạnh Lưu Hậu Viện của mười vị tiết độ sứ. Nội trong ngày hôm nay, Thủ Tróc Lang đã thiệt hại hai sát thủ, một hỏa sư, chưa kể cứ điểm bị người ta xới tung lên, có thể nói là không còn chút mặt mũi nào.
Nhưng dù mất mặt thì mọi việc vẫn phải tiếp diễn. Đêm qua, cả thành Trường An rung chuyển dữ dội, họ buộc phải nỗ lực thu thập thông tin tình báo để tìm hiểu xem chuyện gì đã xảy ra. Đội trưởng nhóm Thủ Tróc Lang ở kinh thành vẫn miệt mài thu dọn tàn cuộc.
Đúng lúc này, đầu con hẻm vọng lại tiếng vó ngựa dồn dập, khiến cho mặt đất cũng khẽ rung lên. Với kinh nghiệm chinh chiến sa trường, tên đội trưởng biết đang có kỵ binh tới gần, liền vội vàng sai thuộc hạ đi điều tra.
Nhưng đám thuộc hạ chưa kịp phản ứng lại thì cả con hẻm nhỏ đã bị phong tỏa hoàn toàn.
Lúc này trời đã rạng, đèn cũng tắt, dân chúng bị lùa hết vào trong phường, sáu trục đường chính thông thoáng như khi màn đêm buông xuống. Đội kỵ mã này phi như bay, chẳng mấy chốc đã đến phường Bình Khang, cộng thêm sự phối hợp của trạm gác trong phường nên có thể nhanh chóng vây kín nơi đây.
Đám Thủ Tróc Lang vô cùng hoảng sợ, không biết chuyện gì đang xảy ra. Tên đội trưởng nhíu mày, đứng dậy ra ngoài đầu hẻm xem thử, liền trông thấy một vị quan đang hùng hổ xông vào. Tất cả những Thủ Tróc Lang định ngăn người này đều bị binh lính xung quanh dạt ra hết.
Tên đội trưởng đang định chắp tay nói mấy câu xã giao, không ngờ viên quan kia lại đột nhiên ném ra thứ gì đó tròn tròn. Vật đó lăn lông lốc vài vòng dưới đất, đến khi nó chạm tới chân tên đội trưởng, hắn mới ngỡ ngàng nhận ra đó là một cái thủ cấp, hơn nữa vết cắt vẫn còn mới nguyên.
Viên quan lớn tiếng nói: “Ta là ti thừa ti Tĩnh An, Lý Tất. Kẻ này tên Lục Tam, là người của Thủ Tróc Lang các ngươi hả?”
Tên đội trưởng nhìn ra viên quan kia tuy bế ngoài lạnh lùng, nhưng thực chất bên trong lại sắp nổ tung đến nơi. Trực giác mách bảo hắn chuyện này nhất định có liên quan đến những hỗn loạn vừa qua. Dưới tình huống này, Thủ Tróc Lang không thể cứng nhắc tuân theo nguyên tắc, bằng không sẽ bị triều đình tận diệt, đến gốc cũng chẳng còn.
Tên đội trưởng nhanh chóng đưa ra quyết định, thành thật nói: “Số lượng Thủ Tróc Lang ở trong kinh thành không nhiều. Tại hạ không nhớ có cái tên ấy, cũng không biết gương mặt này.”
Nói xong, hắn chủ động lấy ra danh sách mà chưa cần Lý Tất thúc giục. Lý Tất thấy chữ viết trên đó có dấu vết thời gian, không phải là thứ có thể chuẩn bị trong lúc vội vàng, nên tờ danh sách này nhất định là thật. Tuy nhiên, bên trong quả thực không có cái tên Lục Tam.
Lý Tất suy nghĩ một lúc rồi hỏi tiếp: “Thủ Tróc Lang sẽ tự nhận mối làm ăn sao?”
Đội trưởng đáp: “Không thể. Mọi ủy thác đều phải thông qua hỏa sư.”
“Nếu Thủ Tróc Lang đó từ nơi khác đến thì người ở kinh thành có quản lý không?”
Đội trưởng sững người, không ngờ chỉ đôi ba câu mà Lý Tất đã hỏi đến vấn đề này rồi. Quả thực có khả năng Thủ Tróc Lang ở một nơi nhận ủy thác có liên quan đến kinh thành của khách nơi khác nên mới đến Trường An, trường hợp này thì không phải thông qua hỏa sư ở kinh thành. Nhưng phân bộ Thủ Tróc Lang ở Trường An sẽ cung cấp những trợ giúp cơ bản như nơi ăn chốn ở, chỉ dẫn và tình báo, cũng sẽ không hỏi những thông tin cụ thể và không tham gia vào công việc của người kia.
“Những khác nơi khác thì đa phần là loại người nào?”
Tên đội trưởng thành thật: “Thương nhân giàu có, tướng lĩnh biên thùy, danh gia vọng tộc, nha môn các địa phương…”
Lý Tất hỏi thêm: “Vậy loại khách nào ở nơi khác thường ủy thác công việc ở kinh thành?” Tên đội trưởng cuối cùng cũng rơi vào thế khó, hắn do dự muốn nói lại thôi. Lý Tất áp sát thêm một bước, giọng điệu hung ác: “Lúc trước các ngươi phái người ám sát Hữu Sát Đột Quyết, đã phạm vào cấm kỵ triều đình. Nếu còn không thành thật thì tội này sẽ do Thủ Tróc Lang các ngươi gánh hết.”
Tên đội trưởng thở dài, biết rằng không thể qua mắt nổi vị quan này liền đánh mắt về hướng đông, nhỏ giọng nói: “Lưu Hậu Viện.”
Ở con ngõ đối diện với hiệu sách Lưu Ký chính là mười Lưu Hậu Viện, đứng sau mỗi Lưu Hậu Viện là một vị tiết độ sứ. Lưu Hậu Viện chính là tai mắt của họ ở kinh thành, là một thể chế tương đối độc lập so với triều đình. Họ không chỉ truyền tin tức từ các nơi đến trung ương mà còn kịp thời báo cáo động thái của trung ương đến các tiết độ sứ.
Nếu hỏi khách hàng nào ở nơi khác có nhiều ủy thác liên quan đến kinh thành nhất thì câu trả lời chắc chắn là mười Lưu Hậu Viện này.
Lý Tất thoáng dao động, một khi đã liên quan đến Lưu Hậu Viện thì chẳng khác nào có dính dáng đến biên cương, nếu như vậy thì chuyện ngày càng trở nên phức tạp. Cậu hỏi: “Vậy sổ sách giữa các ngươi và Lưu Hậu Viện tất toán như thế nào?”
Câu hỏi này cực kì chuẩn xác. Bởi nếu cậu cứ một mực truy hỏi nội dung ủy thác thì tên đội trưởng có thể chống chế trả lời qua loa rằng mình không biết. Nhưng khi nói đến chuyện tiền bạc thì bắt buộc phải giấy trắng mực đen, bằng chứng rõ ràng, rất khó để tạm thời lấp liếm.
Trước câu hỏi hóc búa này, tên đội trưởng chỉ đành sai thuộc hạ đi lấy sổ sách của hỏa sư, đồng thời giải thích: “Sổ sách giữa chúng ta và Lưu Hậu Viện được tất toán mỗi tháng một lần. Tổng bộ sẽ gửi hóa đơn đến, sau đó Lưu Hậu Viện sẽ căn cứ theo đó mà trả tiền. Còn về nội dung ủy thác chi tiết thì chúng ta không thể biết được, trừ khi đó là sự vụ qua tay kinh thành.”
Phân bộ Thủ Tróc Lang tại kinh thành phải phụ trách việc mua sắm và trao đổi hàng hóa, thù lao các nơi sẽ được tập trung tại đây để đổi thành lương thực, đồ sắt… rồi vận chuyển về thành thủ tróc nơi biên ải. Vì vậy, các khách hàng lớn đều được tất toán ở đây.
“Lấy đến đây cho ta xem.”
Lý Tất không dễ dàng tin lời tên đội trưởng. Cậu dẫn theo vài thư lại dày dặn kinh nghiệm, lấy tất cả sổ sách trong năm vừa qua của Thủ Tróc Lang ra để tự mình xác minh. Đối với một tổ chức bí mật, hành động này chẳng khác nào công khai sỉ nhục nhưng tên đội trưởng chỉ mím môi, không dám làm càn.
Chỉ thị của Lý Tất rất đơn giản: tìm ra tất cả các giao dịch trong năm vừa qua giữa Thủ Tróc Lang và mười Lưu Hậu Viện, trừ đi thù lao cho các vụ ủy thác do phân bộ kinh thành xử lý, xem xem Lưu Hậu Viện nào có số lần giao dịch nhiều nhất.
Phải biết rằng việc sắp xếp một tên nội gián trong ti Tĩnh An là vô cùng khó khăn, cái giá phải trả nhất định rất đắt đỏ. Còn nếu muốn làm được một kế hoạch quy mô lớn như Kiến Càng thì chi phí sẽ còn kinh khủng hơn nữa. Con số này sẽ được phản ánh ở số lượng giao dịch. Chỉ cần tra ra Lưu Hậu Viện nào có chi phí ủy thác nhiều nhất dành cho Thủ Tróc Lang từ nơi khác đến kinh thành làm việc, thì kết luận sẽ tự khắc xuất hiện.
Mấy thư lại nhanh chóng đưa ra kết luận: Lưu Hậu Viện Bình Lư. Chỉ trong năm Thiên Bảo thứ hai, Lưu Hậu Viện này đã trả cho Thủ Tróc Lang hơn một vạn quan tiền, trong đó chi phí ủy thác tại kinh thành chưa đến hai nghìn quan.
“Bình Lư…” Lý Tất nhắc đi nhắc lại cái tên này.
Tiết độ sứ Bình Lư khá non trẻ so với chín tiết độ sứ còn lại, bởi chỉ mới được thành lập chưa đầy hai năm. Nó thực chất là một nhánh thứ cấp được tách ra từ tiết độ sứ Phạm Dương, chỉ quản lý mười một thành thủ tróc cùng một đội quân với trung tâm đặt ở Doanh Châu.
Chính vì đơn vị này quá mới nên Lý Tất nhất thời không nhớ ra tiết độ sứ Bình Lư hiện tại là ai, đành phải hướng ánh mắt dò hỏi về phía tên đội trưởng. Đối phương đương nhiên biết rất rõ nên vội vàng đáp: “Hồi bẩm ti thừa! Tên tiết độ sứ Bình Lư là An Lộc Sơn.”