Virtus's Reader
Trường An 12 Canh Giờ

Chương 25: Mục 26

HỒI KẾT

Năm Thiên Bảo thứ ba là một năm yên bình. Trong sử sách có rất ít việc quan trọng đáng để ghi lại trong năm ấy. Mặc dù dân gian có truyền tai nhau về việc lửa thần giáng xuống Trường An và lấy đi sinh mạng của bao người, nhưng nhà nước vẫn không tiết lộ gì về việc này.

Đồng thời, năm Thiên Bảo thứ ba cũng là một năm quan trọng. Rất nhiều người, bao gồm cả chính triều đại nhà Đường, đã trải qua những thay đổi to lớn trong năm này.

Tháng Tư năm đó, đoàn người ngựa của Hạ Tri Chương về tới quê nhà Sơn Âm, nhưng Hạ phủ lấy cớ người già, đường sá xa xôi mệt mỏi, nên đóng cửa không tiếp bất cứ ai. Chẳng bao lâu sau, có tin Hạ Tri Chương đột ngột qua đời, thọ tám mươi tư tuổi. Hương thân phụ lão ở quê nhà chỉ có cơ hội đọc được hai bài thơ do ông để lại sau khi về quê, chứ không ai được gặp mặt người thật. Khi tin tức này truyền tới Trường An, hoàng đế thương xót hoãn thiết triều, tất cả văn võ bá quan đều viết thơ để tỏ lòng thành kính. Việc này đã trở thành một sự kiện văn hóa đáng chú ý trong năm Thiên Bảo thứ ba.

Cùng năm đó, Vương Trung Tự ở Sóc phương bất ngờ phát động một cuộc tấn công mãnh liệt chưa từng có nhằm vào người Đột Quyết, khí thế áp đảo đến mức gần như san phẳng thảo nguyên. Sau vài tháng giao tranh quyết liệt, Khả hãn Ô Tô Mễ Thi của Đột Quyết chiến bại bị giết, người kế vị ông ta là Khả hãn Bạch Mi cũng không tránh khỏi số mệnh tương tự vào năm tiếp theo, phần còn lại của bộ tộc bị người Hồi Hột thâu tóm. Từ đó trở đi, không còn nghe thấy cái tên Đột Quyết trên thảo nguyên nữa.

Trong khi Sóc phương chiến tranh liên miên thì vùng đông bắc lại được hưởng hòa bình. Một tướng lĩnh người Hồ tên là An Lộc Sơn được thăng chức lên tiết độ sứ Phạm Dương – thái phóng sứ Hà Bắc vào tháng Chín năm đó, đồng thời vẫn kiêm nhiệm chức tiết độ sứ Bình Lư như cũ, trở thành một ngôi sao đang lên trên chính trường trong triều đại Thiên Bảo. Lòng tận trung tuyệt đối của ông ta đã giành được sự công nhận của hoàng đế và hữu tướng, họ cho rằng có thể yên tâm giao một vùng Hà Bắc rộng lớn cho ông ta.

Nhưng tất cả những chuyện này đều không phải mối bận tâm lớn nhất của hoàng đế. Khoảng cuối năm Thiên Bảo thứ ba, ông đã chính thức đưa Thái Chân vào cung, đồng thời vội vã phong nàng thành quý phi vào năm kế tiếp. Từ đó, vua và phi tối ngày bên nhau, sống cuộc sống như cặp thần tiên trong cung Hưng Khánh.

Là một cơ quan tạm thời, ti Tĩnh An nhanh chóng bị giải tán. Ti thừa ti Tĩnh An là Lý Tất đã dâng sớ từ quan, rời khỏi thành Trường An và bắt đầu hành trình tầm đạo nơi sơn dã. Việc này tuy ít người biết, nhưng đã trở thành một giai thoại đẹp được lưu truyền giữa dân chúng trong thành. Trên hành trình của mình, Lý Tất có trở lại Trường An nhưng lại rời đi dưới áp lực của đám người Dương Quốc Trung.

Mất đi cánh tay phải đắc lực, Thái tử Lý Hanh chỉ trải qua vỏn vẹn hai năm yên bình. Từ năm Thiên Bảo thứ năm, Hữu tướng Lý Lâm Phủ liên tiếp tung ra nhiều vụ án lớn như án Vi Kiên, án Đỗ Hữu Lân… Vụ nào vụ nấy chấn động cả triều đình và dư luận, liên lụy vô số người. Sau những đại án ấy, thái tử lần lượt mất đi vô số thân tín, thậm chí còn bị dồn ép đến nỗi xảy ra hai biến cố hôn nhân, rơi vào tình thế vô cùng khó khăn, khốn đốn. Thái tử lo lắng đến mức tóc mai bạc hết.

Tình trạng này kéo dài đến tận loạn An Sử vào năm Thiên Bảo thứ mười bốn. Lý Hanh không theo hoàng đế đến đất Thục mà chạy đến Linh Vũ đăng cơ, tôn xưng thiên tử đương thời thành Thái thượng hoàng. Vì thế, ở Đại Đường hình thành ba thế lực: Thái thượng hoàng ở đất Thục, hoàng đế ở Linh Vũ và Vĩnh vương ở Giang Lăng.

Đúng lúc này, Lý Tất bặt tăm đã lâu lại quyết định xuống núi, phò tá Lý Hanh, nhưng kiên quyết không nhận chức tước mà chỉ ở lại với thân phận môn khách. Dưới tài mưu lược và điều hành của ông, Lý Hanh đã có thể chuyển bại thành thắng, bên ngoài thì đánh bại được quân phản loạn bên trong cũng áp chế được Thái thượng hoàng và Vĩnh vương, cuối cùng làm nên nghiệp lớn. Người đời tôn xưng Lý Tất là ‘bạch y tể tướng’. Sau khi thành công, Lý Tất lại từ giã chính trường, về ẩn cư nơi sơn cốc. Sau khi Túc Tông qua đời, hai đời hoàng đế Đại Tông và Đức Tông đều mời ông về triều làm tể tướng, Lý Tất từng đồng ý rồi cũng chừng ấy lần lại lui về ở ẩn. Cuộc đời ông trải dài qua bốn vị hoàng đế Đại Đường: Huyền Tông, Túc Tông, Đại Tông và Đức Tông, qua nhiều thăng trầm, tước phong Nghiệp huyện hầu.

Ngoài Lý Tất, một nhân vật truyền kỳ khác cũng xuất hiện trong loạn An Sử. Người này không phải người trung thổ mà là một tu sĩ Cảnh giáo tên là Y Tư. Y Tư có con mắt bất phàm. Người này hoạt động sôi nổi dưới trướng Quách Tử Nghi, phụ trách vai trò mưu sĩ trong quân đội, giữ đến chức quan Kim Tử Quang Lộc đại phu, kiêm Sóc phương tiết độ phó sứ và thí điện trung giám, được ban tặng áo cà sa tím. Năm Thiên Bảo thứ tư, đền thờ Ba Tư được đổi tên thành đền thờ Đại Tần, Cảnh giáo cũng phát triển đến cực thịnh trong lãnh thổ Đại Đường. Năm Kiến Trung thứ hai, Y Tư đã cho dựng một tấm bia đá trong sân đền thờ Đại Tần, đặt tên là Bia Đại Tần Cảnh giáo lưu hành Trung quốc để kỷ niệm hành trình gian nan của Cảnh giáo kể từ khi du nhập vào Trung Quốc. Tấm bia này được truyền lại hàng ngàn năm và vẫn còn nguyên cho tới ngày hôm nay.

Nhưng nếu nói về những thăng trầm trong cuộc đời thì cả Lý Tất và Y Tư đều không thể trở thành một truyền kỳ như Nguyên Tái. Sau năm Thiên Bảo thứ ba, đường quan lộ của người này hết sức hanh thông, hơn nữa việc một người xuất thân hàn vi lấy được Vương Uẩn Tú, con gái của Vương Trung Tự, cũng trở thành chuyện lạ xôn xao một thời. Sau khi loạn An Sử nổ ra, Nguyên Tái tranh thủ mọi cơ hội, được Túc Tông Lý Hanh đặc biệt coi trọng, tiến thân vào tầng lớp quan cao trong triều. Sau khi Túc Tông qua đời, ông ta lại cấu kết với hoạn quan Lý Phụ Quốc, lên đến tận chức tể tướng, trở thành một đại thần có sức ảnh hưởng lớn trong triều Đại Tông và độc chiếm quyền lực. Ngay cả Lý Tất cũng không thể so kè với ông ta.

Tuy nhiên, trong thời gian lộng quyền, Nguyên Tái ra sức vơ vét, ăn hối lộ làm của riêng, hành vi không chút kiêng dè. Vợ và con trai ông ta cũng ngang ngược, vô lối, vô cùng ngạo mạn. Cuối cùng Đại Tông không thể chấp nhận được nên đã hạ lệnh bắt giữ và khép tội tử hình. Sau khi Nguyên Tái chết, theo luật pháp Đại Đường, vợ ông có thể được miễn tội chết, nhưng Vương Uẩn Tú lại nói: “Cô nương thứ mười ba nhà họ Vương, hai mươi năm nữ nhi Thái Nguyên tiết độ sứ, mười sáu năm thê tử tể tướng, ai còn viết được bài Trường Tín, ai còn rõ sự Chiêu Dương? Âu chết cũng là may mắn!” Thế là nàng được chết cùng Nguyên Tái như ý nguyện.

Nhưng cũng có những người gần như không để lại dấu vết nào trong sử sách, giống như những nhân vật trên đây.

Sau khi loạn An Sử được dập tắt, trong dân gian bỗng xuất hiện một cuốn sách có tên Sự tích An Lộc Sơn, tác giả là Diêu Nhữ Năng, huyện úy huyện Hoa Âm. Tuy nhiên, ngoài cuốn sách này, không có một chi tiết nào khác liên quan đến cuộc đời tác giả còn sót lại và cũng không biết động cơ của ông khi viết cuốn sách là gì.

Cuốn sách ghi lại cuộc đời An Lộc Sơn và được chia thành ba tập: thượng, trung, hạ. Trong quyển hạ, Diêu Nhữ Năng đã đề cập đến một việc như sau:

> Ngày 15 tháng Bảy năm Thiên Bảo thứ mười lăm, phản quân đến gần kinh thành, Huyền Tông vội vàng dẫn binh lính chạy khỏi Trường An. Chạy đến Mã Ngôi pha, đám người Thái tử Lý Hanh, đại tướng quân Long Võ quân Trần Huyền Lễ âm mưu phát động binh biến, hòng diệt trừ gian thần Dương Quốc Trung. Hôm đó, Dương Quốc Trung chạm mặt với vài sứ giả thổ phiên ở bên ngoài trạm dịch Mã Ngôi. Ông ta đang định nói chuyện với họ thì bỗng rất đông quân lính từ đâu ùa ra, hô hoán rằng Dương Quốc Trung cấu kết với thổ phiên.

>

> Dương Quốc Trung cả kinh, đang định mắng lại thì một kỵ binh tên Trương Tiểu Kính đột nhiên xông ra khỏi đám lính, bắn ông ta ngã khỏi lưng ngựa rồi chém đứt đầu và phân thây thành nhiều mảnh.

>

> Có Trương Tiểu Kính đi đầu, binh lính sĩ khí sục sôi, hùng hổ bao vây trạm dịch, yêu cầu hoàng đế phải xử tử Dương quý phi. Huyền Tông không còn cách nào khác, chỉ đành nén đau thương, treo cổ ái phi, bấy giờ quân lính mới chịu rút lui. Đây chính là binh biến Mã Ngôi nổi tiếng.

Cuộc binh biến này đã thay đổi số phận của rất nhiều người. Nhưng người kỵ sĩ đi đầu là ai, lai lịch thế nào, cuộc đời sau này ra sao thì không được đề cập đến trong sách. Tất cả chỉ có một cái tên như từ trên trời rơi xuống.

Có lẽ khi viết đoạn văn này, Diêu Nhữ Năng bỗng không thể kìm nén được cảm xúc trào dâng trong lòng nên đã thuận ý viết ra cái tên ấy. Còn lý do tại sao ông lại làm vậy thì người đời sau sẽ không tài nào biết được.

Bình luận (0)

Đăng nhập để viết bình luận.

Chưa có bình luận nào. Hãy là người đầu tiên!